Khái quát đặc điểm Sinh vật ở Hải Hậu

Ngày   10:43:02, 20-08-2017 Tác giả Mai Đức Thạch

Đặc điểm giới sinh vật Hải Hậu

Sinh vật là vật chất sống, được hình thành sau và song song với các hợp chất vô cơ như địa chất, thuỷ văn, thổ nhưỡng, khí hậu. Môi trường vô cơ tạo điều kiện hình thành và phát triển vật chất sống. Sự sống lại tác động làm thay đổi môi trường vô cơ. Sự tác động qua lại của mâu thuẫn thống nhất giữa vật chất sống với môi trường vô cơ tạo nên sự cân bằng địa - sinh thái. Sự cân bằng hệ địa - sinh thái bên vững khi sinh vật sống phù hợp với môi trường vô cơ. Môi trường vô cơ thay đổi sẽ phá vỡ hệ sinh vật. Ngược lại sự thay đổi của hệ sinh vật sẽ ảnh hưởng và có khi làm thay đổi môi trường vô cơ. Ví như khi đê bị vỡ, nước mặn tràn vào, lúc đó thổ nhưỡng, địa hình đất, chế độ nước thay đổi. Từ những thay đổi về đất và nước (môi trường vô cơ) dẫn tới phá vỡ và hủy diệt hệ sinh vật ưa nước ngọt (sinh vật sống) các sinh vật ưa mặn lại có cơ hội phát triển. Như vậy sự thay đổi của môi trường đã phả vỡ cân bằng địa - sinh thái cũ và hình thành một cân bằng địa- sinh thái mới. Sự khai thác và thực hiện các biện pháp tác động của con người, cũng có thể gây nên phả vỡ cân bằng sinh vật, làm biến đổi môi trường, từ đó phá vỡ cân bằng địa sinh thái. Dẫn chứng điển hình là việc sử dụng quá lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật cùng với việc xả các chất thải công nghiệp và rác thải trong sinh hoạt đã làm biến đổi môi trường vô cơ, đất đai nguồn nước bị nhiễm độc, các sinh vật bị huỷ diệt hoặc làm nghèo nàn, các thiên địch có ích trong bảo vệ cây trồng bị tiêu diệt, tính kháng thuốc của cây trồng được tăng cường, sâu bệnh phát triển. Con người, nếu khai thác, tác động đúng quy luật tạo sự cân bằng địa - sinh học bền vững thì năng suất cây trồng, vât nuôi cao và ổn đinh, nếu không thì môi trường suy thoái, ô nhiễm, sinh vật giảm, thậm trí bị huỷ diệt.

Việc tạo một cân bằng VAC trong sản xuất nông nghiệp, việc phòng trừ sâu bệnh tổng hợp theo chương trình IPM, việc củng cố vững chắc hệ mống đê điều, việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên: đất đai, nước, các nguồn lợi thuỷ hải sản… cùng với các tác động khác của con người đều nhằm mục đích tạo một cân bằng vững chắc hệ địa – sinh thái.

Sinh vật tự nhiên

Sinh vật tự nhiên hình thành, biến đổi theo quá trình hình thành đất và quá trình cải tạo tác động của con người. Thời kỳ đầu khi hệ thống đê chưa có, nước triều tràn vào thì sinh vật tự nhiên là tập hơp những sinh vật mà sự sống phù hợp với cân bằng với hệ địa - sinh thái vùng ngập mặn, những sinh vật này đến nay chỉ còn tồn tại ở vùng đất cửa sông Sò, sông Ninh, các bãi cát, những vùng đầm ngoài đê biển, đó là: sú, vẹt, phù du, cói, lau sậy, tập đoàn cò chịu mặn, chim, ngao, sò, hến,… kế tiếp thời ki sau; khi đê đã được đắp, đất vẫn còn mặn đang trong quả trình rửa mặn, đất còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, sinh vật tự nhiên là tập đoàn các sinh vật có khả năng chịu mặn rộng, những sinh vật tự nhiên này hiện nay chỉ còn tồn tại ở các cửa sông tiêu ra biển và vùng đầm nước chưa sử dụng trong đê biển, các vùng đất ven sông còn chịu ảnh hưởng của thủy triều. Bao gồm: cói, lác, cỏ gấu, cỏ gừng… các động vật: tôm, cá, ngao, sò vùng nước ngang. Kế tiếp sau là hệ sinh vật phù hợp với cân bằng địa – sinh thái của vùng đất được cải tạo thau chua rửa mặn. Hiện nay do quá trình thâm canh tăng vụ, mở rộng đất đai, tận dụng diện tích để trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nên hệ sinh vật tự nhiên này chỉ còn tồn tại trên bờ mương, bờ đường, bờ vùng, bờ thửa, ven đê, những nơi hoang hóa. Chủ yếu sinh vật tự nhiên này là cỏ dại, rong rêu… Các động vật hoang dã rất phong phú: trên cạn có các loại chim bao gồm cả chim di cư do nguồn thức ăn phong phú. Nhiều loại thú sử dụng thức ăn là lương thực hoặc thực vật… Dưới nước tập đoàn thực vật, động vật thủy sinh: tôm, cá, lươn, trạch, rươi, ếch, nhái, rong rêu, giáp xác… Nguồn sinh vật tự nhiên ở Hải Hậu là đa dạng, phong phú bởi môi trường đất, nước, không khí… là sự kết hợp giữa đồng bằng và biển cả. Đã có một tập đoàn sinh vật bao gồm cả thực vật và động vật đa dạng cả vùng nước mặn, nước ngang và nước ngọt. Thực vật nổi có 50 giống và 111 loài, rong biển có 21 giống 32 loài. Động vật vùng triều có 83 loài trong đó 46 loài cá và 37 loài giáp xác. Nhiều loài động thực vật có giá trị kinh tế cao như: cá chim, thu, song, hồng, ngừ; tôm he, rau câu… Đó là tài nguyên vô cùng quý giá thiên nhiên đã ban tặng cho Hải Hậu.

Cây trồng và vật nuôi

Hải Hậu là vùng đất mới, là kết quả của quá trình khai hoang lấn biển. Vì thế cây trồng, vật nuôi đều được du nhập từ vùng đất cổ đem về trồng trọt, chăn nuôi rồi chọn lọc, thuần hóa mà hình thành một tập đoàn cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng thời kỳ, phù hợp với cân bằng địa – sinh thái.

Về cây trồng

Từ buổi ban đầu khai hoang lập đất, tổ tiên ta đã đưa cây trồng về gieo cấy. Lúc đó đất còn bị chua mặn, đất thấp còn bị ngập nước, thì cây trồng phù hợp cho vùng đất trũng là cây cói, những gò đất cao thì mới cấy được cây dâu và những cây màu như ngô, khoai, sắn. Nghề trồng dâu, ươm tơ dệt lụa đều có từ thời mở đất với hai vùng chuyên canh trồng dâu là Cồn Dâu (nay là Khán Sản xã Hải Bắc) và Trại Dâu (Hai Giáp xã Hải Anh). Mọi nhà đều có trồng dâu, nuôi tằm. Kéo kén, dệt lụa, nhuộm tơ là nghề truyền thống và phát triển cho đến những năm 70 của thế kỷ XX. Vùng đất thấp chưa cấy được lúa nên cây cói được trồng. Trồng cói, thu hoạch cói để dệt chiếu, đan lát thành các đồ để đựng, chứa. Cói ngắn dùng để lợp nhà, cói bồi còn được sử dụng làm chất đốt để nung gạch và các đồ sành, đồ gốm.

Từ nhát cuốc đầu tiên khai hoang lấn biển các tổ tiền bối đã tính tới việc sản xuất cây lương thực. Khi đã đắp được đê, ngăn mặn, khơi được sông, xây được cống dẫn nước tưới tiêu cải tạo thau chua rửa mặn. Đất được ngọt hóa dần thì ruộng cói được chuyển sang trồng lúa. Cây lúa dần dần trở thành cây trồng chủ yếu ở Hải Hậu.

Lúc đầu lúa chỉ cấy một vụ vào tháng 5,6,7 và thu hoạch vào tháng 10-11-12 (vụ lúa mùa) bằng các giống chịu mặn, cao cây như: hom tía, hom trắng, ré đỏ, lúa hin, lúa hon, nếp ông lão, nếp nõn tre. Khi việc trị thủy dần hoàn chỉnh, chủ động được tưới tiêu nước thì lúa được cấy hai vụ trong năm là lúa chiêm và lúa mùa. Trước những năm 50 của thế kỷ XX các giống lúa vụ chiêm có: hom tía, hom trắng, chiêm dong, chiêm tép, chiêm câu, ré đỏ, chiêm chút, các giống nếp có: nếp trắng, nếp bàu, nếp ông lão, nếp cái chiêm, nếp nõn tre, nếp cà cuống… Các giống cấy vụ mùa: lúa tẻ có: hom tía, hom trắng, ré héo, ré cạn, ré nghệ, ré dâu, hin, hom… Lúa nếp có: nếp bắc, nếp thầu dầu, nếp ông lão, nếp cái, nếp hương… Lúa tám có: tám xoan, tám thơm, tám cổ ngỗng, tám biếc, dự râu. Các giống lúa hon, lúa hin, lúa ré, lúa dự… đều là các giống cao cây, chịu úng tốt, phù hợp với đất còn ảnh hưởng của mặn, chất lượng gạo tốt. Những giống này hiện nay không còn được gieo cấy do hạn chế về năng suất. Trong tập đoàn các giống lúa truyền thống có giống tám thơm – giống đặc sản của Hải Hậu. Lúa tám thơm là giống lúa dài ngày (185-190 ngày từ cấy đến thu hoạch). Tám xoan là giống lúa cảm quan nên chỉ cấy được ở vụ lúa mùa (các huyện trong tỉnh và ngoài tỉnh đều có thể cấy được lúa tám xoan, nhưng độ thơm, dẻo của gạo vẫn không đâu có được như lúa được cấy tại Hải Hậu). Lúa tám xoan cấy từ đầu tháng 6, lúa trỗ vào giữa tháng 10, lúc lúa tám trỗ thì các trà lúa khác đã uốn câu, chính vì thế lúa tám không lai tạp với các giống khác mà giữ nguyên được tính di truyền. Khi gặt về các “Lão nông tri điền” chọn những bông dài, chín đều, đập lấy đầu bông đen phơi khô, bảo quản trong hũ sành, sứ để làm giống. Lúa tám xoan được gặt khi vừa chín (gặt sớm năng xuất thấp, gặt quá già chất lượng gạo kém thơm đi). Thóc tám được phơi 3-4 nắng cho khô hẳn, bảo quản trong chum, vò, bao kín (trước đây thóc tám chủ yếu được bảo quản trong chum, trên phủ lá chuối khô rồi đậy kín). Thóc tám được xay xát thủ công bằng cối xay và chày giã, việc xay sát bằng máy đo nhiệt độ cao nên hương thơm của gạo bị giảm thấp.

Cùng với cuộc cách mạng giống cây trồng, từ năm 1960 trở lại đây, giống lúa luôn được đổi mới. Thập kỷ 60 nhập nội và gieo trồng các giống của Trung Quốc như Chân trâu lùn, bao thai lùn, mộc tuyền….Thập kỷ 70 nhập và gieo trồng các giống của Viện lúa quốc tế như NN8, CR203. .. Thập kỷ 80 chủ yếu là  các giống của viện lúa quốc tế như IR17494, CR203, NN22, một số giống chọn lọc của Việt Nam như VN10... Từ thập kỷ 90 đến nay gieo trong chủ yếu là các giống của Trung Quốc bao gồm các dòng lúa lai và tập đoàn các giống lúa thuần. Ngoài các giống lúa tẻ, việc đưa vào gieo cấy các giống lúa: Bắc thơm, nếp Ấn Độ… và các giống lúa có chất lượng gạo cao vào gieo cấy đã góp phần nâng cao giá trị hàng hóa của sản xuất lúa.

Trong cây lương thực, cây khoai nước được xếp hàng quan trọng thứ 2 (sau cây lúa) vì vậy đất tổ Quần Anh sau lễ hạ điền cây lúa tiếp đến là hạ điền cây khoai nước để cầu sự được mùa, bình an. Cây khoai nước là cây trồng rộng rãi ở Hải Hậu trước đây, khoai có thê trồng dưới ruộng nước, ở trên vườn, ở bờ ao, rãnh thoát nước, bờ sông, bờ mộng, bờ vùng, bờ thừa. Khoai nước có 2 loại: Khoai trắng có lá trắng, rọc trắng, một củ màu trắng. Khoai trắng có khoai trắng bông, chấm son, trắng khôn, trắng dại (khoai trắng dại đẻ khoẻ, có độ gây ngứa cao, thường chỉ dùng cho chăn nuôi). Khoai ngứa tía có rọc màu tía, lá màu xanh phớt tím, gân lá tím. Khoai tía có 2 giống: Khoai nghệ có ruột củ màu vàng nghệ, và khoai tía thường có ruột củ màu trắng ngà. Khoai ngứa rất dễ trồng, tính thích nghi rộng, có thế trồng quanh năm, nhưng có 2 vụ chính: cấy vào tháng giêng, tháng 2 và cấy vào tháng 7 - 8 âm lịch. Khoai nước năng suất rất cao, thâm canh trên đất ruộng có thể đạt 100 tấn/ha. Thân, lá, củ đều sử dụng được. Lá, rọc và củ là thức ăn cho chăn nuôi lợn, gà, ngan, vịt. Củ nhỏ cùng rọc nhỏ có thế nấu canh làm thức ăn cho người, hoa khoai nước dùng để xào nấu là thức ăn dân dã trước đây và là đặc sản của vùng Hải Hậu ngày nay. Củ khoai có thể luộc, hấp cơm (nấu chung với gạo), cũng có thể gọt vỏ, thải mỏng phơi khô làm lương thực dự trữ. Thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX về trước khi sản xuất thóc gạo chưa đủ cung cấp cho nhu cầu thì cây khoai nước là nguồn lương thực cho con người và là nguồn thức ăn chính để phát triên chăn nuôi ở Hải Hậu.

Cây lương thực, lấy sản xuất lúa là chính, ngoài cây khoai nước, tuỳ theo từng thời kỳ, với điều kiện thuận lợi phù hợp của đất đai khí hậu, tập đoàn cây màu đa dạng- phong phú cũng được du nhập và trồng trọt rộng rãi, phổ biến như chóc riềng, ngô, khoai lang, sắn đồng nai, sắn dây, củ từ, củ ngà, củ mài… vừa làm thức ăn vừa làm lương thực cho người và gia súc.

Cây ăn quả: Trong vườn nhà của mỗi gia đình tuỳ theo rộng hẹp là cả một tập đoàn Cây ăn quả: mít, nhãn, vải, hồng, bưởi, chuối, chanh, cam, quýt, na, ổi… mùa nào quả ấy. Đặc biệt có cây quýt đường được coi là đặc sản. Quýt đường được trồng nhiều ở Hài Đường, thích hợp với đất thịt nhẹ, thoát nước. Qủa chín màu vàng tươi, mọng vỏ, mọng múi, ngọt đậm, năng suất cao, thu hoạch vào cuối năm.

Cây công nghiệp, thực phẩm: Cây dâu và cây cói là những cây được trồng trọt từ thời khai hoang mở đất. Các cây công nghiệp, thực phẩm khác như mía, lạc, đậu tương cũng rất phát triển. Từ 1960 trở về trước vùng phía Bắc huyện, mía được trồng trong vườn, trên đất cồn bãi… trồng mía gắn hẳn với việc nấu mật làm đường. Lạc, dậu tương được trồng nhiều ở Hải Thịnh, Hải Phúc là những vùng đất cát pha. Đay được trồng ở các bãi ven sông và đất ruộng quanh nhà. Rau được trồng trong vườn nhà và cồn đống dễ bảo vệ chăm sóc. Nhà nhà đều có vườn rau với môt tập đoàn giống rau, mùa nào thứ đó để có rau ăn quanh năm. Môt số vùng trồng rau tập trung làm sản phẩm hàng hoá là: Hải Vân, Hải Nam, Hải Xuân, Hải Cường, Hải Phú, Hải Hoà, Hải Thịnh rau từ Hải Hậu ngoài phục vụ cho sinh hoạt trong huyện còn mang bán “cho thành phố và các huyện khác. Những năm gần đây khi cấy vụ đông được phát triền, cây rau, cà chua, dưa chuột… được đưa gieo cấy trên ruộng hai vụ lúa hình thành vùng sản xuất tập trung như Hải Tây, TT Cồn, Hải Lộc…. đã có sản phẩm cung cấp cho tiêu dùng và chế biến xuất khẩu.

Trong khu dân cư là cả một tập đoàn cây lâu năm bao gồm cày ăn quả, cây lấy gỗ và tre nứa. Những năm 1970 trở về trước, nhà cửa chuồng trại chủ yếu làm bằng tre, bằng gỗ thì trồng xoan bạch đàn, phi lao. .. để lấy gỗ làm nhà. Xung quanh nhà trồng mây tre, trồng hóp vừa để bảo vệ chống gió bão, chống gió lùa chỗ nhà cửa, cho hoa màu, cho cây trồng trong vườn, vừa là nguyên liệu để làm nhà, đan lát, phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Trước đây, khi dân cư còn ít, các điếm dân cư là các vùng đất cao ráo. Khi dân số tăng lên do nhu cầu đất ở, phải đào ao vượt thổ, hình thành nhiều ao trong làng. Nhà ở gắn liền với ao cá, vườn cây nên có câu “vườn rau, ao cá”. Trong ao được nuôi trồng thủy sản, hoặc trồng sen, thả muống. Trong mỗi gia đình, trong khu dân cư hình thành lên hệ địa – sinh thái VAC (vườn cây, ao cá, chuồng trại chăn nuôi). Tuy nhiên đó là hệ địa - sinh thái mang tính tự cung tự cấp.

Vùng ngoài đê biển, để chống cát bay bảo vệ đê được trồng phi lao, trồng dứa dại. Vùng bãi lầy lúc chưa bị xói mòn, lở được trồng xú vẹt.Vùng bãi triều trong đê và ngoài đê các cửa sông được cải tạo để nuôi trồng thủy sản. Việc khai thác vùng đất ngoài đê bị thu hẹp dần từ giữa thế kỷ XX khi biến lấn bãi thoái.

Vật nuôi

Cây trồng được đa dang phù hợp với đất dai, khí hậu và nhân sinh, thì vật nuôi cũng rất phong phú và cân bằng với môi trường địa sinh thái. Để phục vụ cho khai hoang, cho làm đất, con trâu bò được chăn nuôi, trâu thích nghi với vùng đất còn đang nhiều nước, dễ chăn thả, không sử dụng lương thực, phù hợp với cày bừa đất vùng đất trũng. Sản xuất lúa nước thủ công thì không gì băng sử dụng sức kéo của trâu. Đúng là “con trâu là đầu cơ nghiệp" của nhà nông. Vùng đất cát, cát pha thì con bò cũng được chăn thả và sử dụng cũng như con trâu. Trâu bò giúp nhà nông cày kéo, phân trâu bò để thâm canh cây trồng, thịt trâu bò  là nguồn thực phẩm. Trâu bò được nuôi rất sớm ngay từ thế ký XV - XVII ở Hải Hậu, vùng trồng cỏ, chăn thả đã được quy hoach nay còn ghi lại trong dân gian với các vùng: Đồng mục (thuộc xã Hải Trung), Cồn Chăn. Con trâu được chăm sóc được tôn trọng. Hàng năm trâu được dùng làm vật tế thần cầu sự bình an, giàu có của làng xã trong dịp lễ đầu năm. Nuôi trâu, chọn giống trâu là việc làm rất tỉ mỉ. Người buôn bán trâu (lái trâu) nhìn hình dàng, khoang khoáy con trâu đã biết con trâu nào kéo khoẻ, nuôi con tốt, thậm trí biết trâu giúp cho chủ làm nên sự nghiêp hay phản chủ. Từ cuối thể kỷ XX khi máy kéo đưa vào sản xuất nông nghiêp thì nuôi trâu chuyền dần sang mục đích chính là làm thực phẩm.

Cùng với con trâu, con lợn cũng được đưa vào chăn nuôi rất sớm. Giống lợn cố truyền ở Hải Hậu là lợn ỉ. Lợn ỉ dễ nuôi, chỉ cần cám bèo và các sản phẩm tận dụng của nông nghiệp và sinh hoat. Trong 4 - 5 thế kỷ đã qua ở Hải Hậu chăn nuôi lợn gắn liền với việc trồng cây khoai nước. Lợn ỉ đẻ nhiều con, mắn đẻ, thịt thơm ngon. Nuôi lợn vừa làm thực phẩm, phân lợn làm nguồn phân chuồng chính cho thâm canh cây trồng. Mỗi gia đình nông dân trong chuồng lúc nào cũng có 1 - 2 con lợn, nuôi lợn còn là hình thức “bỏ lẻ lấy tột” của nông dân. Từ giữa thể kỷ XX, cùng với cách mạng giống cây trồng thì đàn lợn cũng được đổi mới. Đàn lợn ỉ do chậm lớn, thể trọng nhỏ, ít lạc được thay bằng giống lợn ngoại của Nga, Anh, Trung Quốc. Nuôi lợn từ tập quán tận dụng chuyển sang nuôi thâm canh với các thức ăn đã chế biến.

Với nguồn thức ăn có sẵn có của thiên nhiên nguồn lương thực dồi dào, đàn  gia cầm bao gồm: vịt, ngan, ngỗng cũng rất phát triển. Các giống gà ri, đông cảo, vịt cỏ, ngan ta. .. có chất lượng thịt thơm ngon được nuôi trong mỗi gia đình với mục đích tự cung tự cấp là chính, có thêm thực phẩm, quả trứng bồi dưỡng mỗi khi yếu đau. Mỗi gia đình đầu tư nuôi vịt đàn, vịt đẻ với số lượng hàng ngàn con,  tận dụng thóc rơi rụng trong và sau mùa thu hoạch Cùng với các giống gia cầm truyền thống, ngày nay được du nhập nuôi trồng các giống gà, vịt, ngan, ngỗng có năng suất cao như gà tam hoàng, gà lương phượng, gà siêu thịt, gà siêu đẻ, ngan Pháp, ngỗng sư tử… làm cho tập đoàn giống gia cầm phong phú và đa dạng hơn. Ngoài trâu bò, gia cầm, lợn, các động vật khác đã được nuôi trong gia đình ở đồng băng Bắc Bộ như: thỏ, chó, mèo, chim cũng được chăn nuôi, giống nào cũng thích nghi cho năng suất cao, cung cấp thêm nguồn thực phẩm tự cung tự cấp, làm sản phẩm hàng hóa giao lưu với mọi miền và tô thêm nét đẹp của nông thôn.

Hài Hậu với vị trí địa ly thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi, các sản phẩm thủy hải sản tự nhiên vô cùng phong phú. Việc đánh bắt thuỷ hải sản đã có truyền thống từ lâu đời, sản phẩm khai thác được rất lớn. Tuy nhiên việc nuôi trồng thuỷ hải sản rất được coi trọng. Cùng với việc xây dựng mở rộng khu dân cư, các ao hồ được đào đắp để nuôi thả cá. Thời kì đầu nuôi thả các giống khai thác từ tự nhiên. Sau do nhu cầu về giống, con người đã tố chức ươm trồmg thu vớt trên sông, rồi nuôi tôm cá bố mẹ cho đẻ trứng, ương con giống. Các giống cá truyền thống như: chép, mè, trôi, trắm có chất lượng cao, thit thơm ngon và chắc. Những năm gần đây nhập nội nhiều giống tôm cá mới như: trắm cỏ, trê phi, rô phi đơn tính, mè hoa, trôi Ấn Độ… Các giống nhập nội đòi hỏi thâm canh nhưng năng suất cao.

Điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế bền vững

Với vị tri địa lý, đất đai, khí hậu, thuỷ văn... con người, huyện Hải Hậu thực sự có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế toàn diện và bền vững.

Nằm ờ vị trí Đông Nam của tỉnh Nam Đinh, có cửa biển Ninh Cơ và sông Ninh Cơ huyện Hải Hậu là đầu mối giao lưu với biến cả và các vùng nội địa trong tỉnh cũng như các tỉnh khác ở Bắc Bộ. Có quốc lộ 21 nối Hải Hậu với quốc lộ 1 và quốc lộ 10, huyện Hải Hậu thông thương với tất cả các tỉnh trong cả nước. Với trên 30km bờ biển, Hải Hậu có nhiều điều kiện khai thác những tài nguyên dồi dào của biển cả ưu ái cho con người. Có cảng biển Hải Thịnh để thông thương với các nước trong khu vực cũng như cả thể giới.

Đất đai, khi hậu, thủy văn vô cùng thuận lợi đề phát triền một nền nông nghiệp đa dạng, tiên tiến có năng suất cao. Đất đai bằng phẳng, màu mỡ lại được phù sa luôn bồi đắp, thích hợp cho các loại cây trồng - nhất là thuận lợi cho thâm canh lúa nước.

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: số giờ nắng dồi dào, tổng nhiệt độ cao và ôn hoà, là vùng cân bằng nước dương, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu chủ động, tự chảy, lấy nước phù sa cải tạo đồng ruộng.

Thời tiết thuận lợi, nước đầy đủ, đất đai màu mỡ đảm bảo gieo trồng hai vụ lúa là lúa xuân, lúa mùa có năng suất cao và một vụ đông với các cây màu ngắn ngày hoặc các loại rau. Đất cao có thể cấy 3 - 4 vụ rau màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày. Thuận lợi của thời tiết, đất đai, Hải Hậu có đủ điều kiện bố trí và thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đáp ứng kinh tế thị trường, chuyến nhanh sang sản xuất hàng hóa, tiến tới xuất khẩu các sản phẩm của nông nghiệp.

Ngoài việc đánh bắt hải sản từ biển khơi, Hải Hậu có rất nhiều tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thuỷ hải sản với nhiều chủng loại tôm cá nước ngọt, nước mặn. Từ phát triển trông trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, Hải Hậu có rất nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến như: xay sát gạo đặc sản, gạo có chất lượng cao cho con người, chế biến hải sản như: nước mắm, bột cá, hàng đông lạnh, chế biển thịt lợn và gia cầm, chế biến thức ăn gia súc... Cùng với công nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp, thuỷ hải sản, huyện Hải Hậu với truyền thống kinh nghiệm và tiềm năng lao động có nhiều cơ hội phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng và hàng thủ công mĩ nghệ phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu như: đồ gỗ dân dụng, đồ mây tre, gạch ngói.

Việc phát triển kinh tế ở Hải Hậu cần coi trọng phát triển nông nghiệp toàn diện. Với thế mạnh là sản xuất lúa, cần cân đối giữa sản xuất lúa hàng hoá, sản xuất lúa theo nhu cầu tiêu dùng của con người, sản xuất lúa cho chăn nuôi, từ đó có thể chuyển đổi, bố trí lại đất đai để tăng sản lượng màu, cây công nghiệp, hoa quả để chủ động có nguyên liệu cho chế biến thức ăn gia súc, nuôi trồng thuỷ sản... Từ chuyển đổi phát triển nông nghiệp toàn diện để phát triển công nghiệp, từ phát triển công nông nghiệp mà phát triển giao thông, vận tải, xuất khẩu và dịch vụ, du lịch.

Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thuỷ văn có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Nếu như không có những biện pháp tích cực ngăn chận, phòng ngừa thì rất dễ phá vỡ cân bằng địa - sinh thái hiện tại - thậm chí huỷ diệt môi trường. Theo dự báo của các nhà khoa học trái đất đang nóng dần lên, băng sẽ tan, nước biển sẽ dâng cao hàng met. Hải Hậu lại nằm trong vùng biển lấn, vì vậy nếu hệ thống đê sông, đê biển không được tôn cao, không kiên cố  vững chắc thì liệu chúng la có thể cản trở được sự tràn ngập cùa nước biển trong tương lai. Lúc đó sẽ không còn mảnh đất màu mỡ mà tổ tiên ông cha và thế hệ ngày nay đã bao công sức kiến tao nên.

Trong những năm cuối thế kỷ XX trở lại đây do kinh tế phát triển, nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật được áp dụng vào sản xuất, do tính hiệu quả nhanh chóng của các tiến bộ khoa học mà người nông dân lạm dụng trong sử dụng phân bón, trong bảo vệ cây trồng, hệ quả là làm xấu đi sự cân bằng địa – sinh thái. Trước đây cũng diện tích ấy, đồng đất ấy, mỗi năm chúng ta lấy đi 40 – 50 tấn chất khô (bao gồm thóc và rơm rạ) trên 1 ha trong 1 năm, thì hàng năm trong vụ chiêm và vụ mùa, người nông dân trả lại cho đất 15 - 20 tấn phân chuồng 9 - 10 tấn phân xanh các loại (thập kỷ 70 của thế kỷ XX hàng năm Hài Hậu đã bón 15 - 20 nghìn tấn phân chuồng, nuôi thả 9000 - 12000 ha bèo dâu, 5000 – 7000 ha điền thanh, ngoài ra còn lấy bùn ao, bùn sông, thu hái lá xoan, lá lúc lác, cỏ lào... làm phân xanh, bón hàng ngàn tấn vôi) tạo nên một nền đất tốt xốp. Ngày nay, cũng diện tích ấy, đồng đất ấy, lượng chất khô lấy đi tăng thêm nhiều (do năng suất nông nghiệp và năng suất sinh vật tăng) nhưng các biện pháp cơ bản trả lại chất hữu cơ cho đất bị coi nhẹ, tầng đất canh tác bị thay đôi cả lý tính và hoá tính. Việc lạm dụng phân hóa học - nhất là phân đạm … coi nhẹ phân hữu cơ, phân lân và kali đã làm cho cây trồng sinh trưởng mất cân đối, từ đó sâu bệnh phát sinh và phát triển gây hại. Việc sử dụng thuốc trừ sâu còn bị lạm dụng hơn, mỗi khi có sâu, bệnh là dùng thuốc diệt trừ (nhiều khi chưa đến ngưỡng phải trừ) .Việc sử dụng thuốc hóa học kéo dài đã tiêu diệt đi những sinh vật có ích, những thiên địch giúp con người bảo vệ cây trồng, làm ô nhiễm môi trường, nguồn nước làm tăng tính kháng thuốc và phát sinh những bệnh mới và sâu hại mới.

Việc săn bắt và làm thực phẩm: chim chóc, rắn, mèo, ếch nhái,. .. đã phá vỡ một cân bằng sinh thái, dẫn tới sâu bọ, chuột phát biển sinh sôi nhanh phá hoại mùa màng. Việc khai thác đánh bắt thuỷ hải sản bằng các biện pháp huỷ diệt (bằng chất nổ, bằng xung điện, bằng các loại lưới dầy) cũng với ảnh hưởng của thuốc trừ sâu bệnh đã làm cạn kiệt, thậm trí một số loài đã mất đi.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống con người được cải thiện công nghiệp ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu kinh tế thì rác thải của công nghiệp, rải rác của tiêu dùng ngày càng nhiều. Trước đây mỗi gia đình đều có hố phân, đều có hố rác, ngày nay tất cả đưa ra đường, ra sông và ra cánh đồng. Rác thải cũng gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Việc ô nhiễm môi trường cũng góp phần phá vỡ cân bằng sinh thái.

Điều kiện tự nhiên của Hải Hậu có nhiều thuận lợi. Nguồn lực lao động ở Hải Hậu là vô cùng phong phú để phát triển  một nền kinh tế toàn diện: nông – công – thương nghiệp và dịch vụ. Nhưng để nền kinh tế phát triển bền vững thì khi các định các định hướng phát triển về kinh tế phải luôn phải nghĩ tới giữ được sự cân bằng địa sinh thái có nghĩa là khi phát triển kinh tế không làm tổn hại tới môi trường, không làm xấu đi nền tảng của cơ sở vật chất hôm nay. Trước hết phải có biện pháp tích cực hơn hơn để cải tạo và kiên cố hóa hệ thống đê sông, đê biển đề giữ  vững từng mét đất trong điều kiện biển lấn bãi thoái và việc dâng lên của nước biển trong tương lai. Trước mắt, không để vỡ đê, không để nước mặn tràn vào  làm phá vỡ cân bằng địa – sinh thái hiện có. Cùng với việc bảo vệ giữ vững địa hình hiện có, cần có biện pháp tích cực bảo vệ nuôi trồng, kết hợp hài hòa giữa khai thác tiềm năng của đất với bồi đắp nâng cao độ phì của đất, áp dụng sản xuất nông nghiệp theo hướng VAC, thực hiện kỹ thuật canh tác theo hướng IPM để không phá vỡ cân bằng địa – sinh thái với những mối tương quan sinh thái phát triển ở mức độ cao hơn là nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế bền vững và hiệu quả cao.

Bình luận Khái quát đặc điểm Sinh vật ở Hải Hậu

Bài viết mới về gạo