Khái quát đất đai Huyện Hải Hậu - Nam Định

Ngày   22:30:30, 18-08-2017 Tác giả Mai Đức Thạch

Cấu trúc của đất đai Hải Hậu

Khi nói đến đất là nói đến ba yêu tố: Địa chất - địa hình - thố nhưỡng của đất. Nham thạch là vật chất tạo nên địa hình và thổ nhưỡng. Địa hình la hình dáng của nham thạch, còn thố nhưỡng là chỉ đến tăng đắt mỏng trên mặt có tính phì nhiêu, giúp cho cây cối và các sinh vật sống, phát triển. Sự bền vững của địa hình và sự phì nhiêu của thổ nhưỡng là do tính chất hoá lý cua nham thạch và quá trình khai thác sử dụng tác động của con người.

Đặc điểm địa chất Hải Hậu

Đất đai Hải Hậu được hình thành từ trầm tích sông - biển và trầm tích biển, mà cụ thể là trầm tích của sông Hồng và biển Đông. Hệ tầng được đăc trưng là các lớp bột sét lẫn cát màu xám, có nhiều mảnh vỏ thân mềm và các lớp sét bột, phần trên có lớp sét đen tướng đầm lầy ven biển, trong đó gặp nhiều vỏ trùng lỗ. Vùng trầm tích biển nằm ở phía cửa sông Ninh Cơ (Hải Thịnh) được đặc trưng bời lớp cát hạt vừa và nhò, thành phần đa khoáng do tác động chọn lọc của sông. Nằm ờ vùng sụt võng đứt gãy của sông Hồng và sông Chảy nên địa tầng Hải Hậu có lớp đất cát dày hàng trăm mét. Các mũi khoan thăm dò nước ngầm sâu 370 m vẫn chưa gặp đá mẹ.

Đất Hải Hậu hình thành là kết quả của trầm tích, nhưng do quá trình đẳp đê, khai sông lấy phù sa cải tạo, trải qua 400 - 500 năm đã làm thay đổi tầng đất canh tác khác hẳn so với quy luật đặc điểm địa chất ban đầu: Tầng dưới sâu mang đặc điểm của địa tầng vùng đất trầm tích sông - biển. Tầng đất mặt mang đặc điểm của trầm tích sông.

Hệ tầng trầm tích sông - biển tạo dựng nên vùng đất Hải Hậu nên nó quyết định đến địa hình thổ nhưỡng. Hệ tầng bên dưới chỉ có ý nghĩa về mặt địa chất - thuỷ văn: Các khoáng sản chỉ có phi kim loại: sét gạch ngói. Khoáng sản kim loại chỉ ở dạng sa khoáng như titan ở vùng bãi biển Hải Chính, thị trấn Thịnh Long, Hải Lý, Hải Triều.

Đặc điểm địa hình Hải Hậu

Nhìn tổng quát, địa hình Hải Hậu tương đối bằng phẳng, cao ở phía Bắc, thấp dần về phía Nam nhưng độ chênh không lớn. Đất đai Hải Hậu ngày nay phần lớn là nằm ngoài đường bờ biển của thế kỷ XV. Đây là vùng đất châu thổ , địa hình thấp, không có đồi gò, độ cao tuyệt đối từ 0,1 - 1,8 m trong khi thủy triều biển Đông là 3 - 4 m, vì thế nếu không có đê biển, đê sông vững chắc  thì đây chỉ là vùng đầm lầy mặn. Để sử dụng vùng đất này, tổ tiên ông cha từ đời này qua đời khác đã nỗ lực đắp đê ngăn mặn không cho thủy triều mặn tràn vào, đồng thời khai sông, đắp đập, xây kè xây cống lấy nước ngọt đầu nguồn, lấy phù sa từ sông Hồng cải tạo đất, thau chua rửa mặn biến đất mặn thành ruộng lúa. Việc sử dụng phù sa trải qua nhiều thế kỷ đã tạo ra địa hình tương đối bằng phẳng trên cả vùng đất Hải Hậu ngày nay.

Hải Hậu những thế kỷ trước nằm trong phần tiến nhanh ra biển của châu thổ sông Hồng. Tuy nhiên Hải Hậu lại nằm giữa vùng đứt gãy của sông Hồng và sông Chảy, với sự biến đổi địa chất của vùng biển cửa sông Hồng nên vùng bờ biển Hải Hậu bị xói lở nhanh từ thế kỷ XX - Tốc độ mài mòn tới 15m/năm ở bờ biển Hải Lý. Do nằm trong vùng biển lấn bãi thoải nên đê biển hiện nay nhiều chỗ đã sát ra bờ biển, nhiều khúc đê phải lùi vào đất liền 2 - 3 lần (Văn Lý) sóng vỗ vào tận chân đê, có chỗ 2 - 3 hàng đê đề phòng vỡ đê.

Do vị trí địa lý ven biển và tác động của con người nên đất đai Hải Hậu hình thành và tồn tại hai khu vực địa hình khác nhau. Khu vực ngoài đê biển và khu vực trong đê biển và đê sông. 

Khu vực ngoài đê biển

Đây là khu vực đất bờ biển. Vùng đất này chịu ảnh hưởng trực tiếp cùa sóng biển và thủy triều. Kiểu địa hình chủ yếu là bãi cát ven biển, có nơi cát được gió vun lại thành đùn cát, cồn cát, có những nơi là bãi triều bùn lắng, thực vật chịu mặn phát triển như vùng bờ biển Hải Đông và vùng Hai Phúc, Hải Lộc (cửa sông Sò), vùng cửa sông Ninh Cơ (Hải Thịnh). Ngoài hai vùng trên phần lớn các bãi cát ven biển của Hải Hậu đều rất hẹp, khi triều cường thì sóng biển nhiều chỗ đập trực tiếp vào chân đê, nhiều chỗ bãi biển nhìn thấy hôm nay là vùng trong đê của những đoạn đê đã bị sóng biển phá vỡ (Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều), Hải Đông, Hải Hòa, thị trấn Thịnh Long.

Khu vực trong đê biển và đê sông

Khu vực trong đê biển hôm nay là khu vực ngoài đê biển xưa kia: Khu Bắc đường 56 là khu vực trong đê của thế kỷ XV. Khu vực phía Bắc đường 50 phía Nam đường 56 là khu vực trong đê biển của thế kỷ XIX. Vùng Hải Hòa, Hải Thịnh, Hải Phú, Hải Cường, Hải Châu… là vùng trong đê biển thế kỷ XX và hiện nay. Khu vực càng cổ thì địa hình do sóng và thủy triều càng bị thay đổi. Sự thay đổi một mặt do phù sa sông được con người đưa vào hàng năm, lắng đọng trên lớp mặt, biến lớp mặt thành địa hình tụ do sông, mặt khác địa hình bị biến đổi do con người cải tạo để lấy đất làm nhà, làm thủy lợi, làm giao thông, cây trồng và nuôi trồng thủy sản đã tạo nên kiểu địa hình nhân sinh cao thấp khác nhau, sử dụng với mục đích khác nhau.

Đất hình thành từ trầm tích sông - biển nên khu vực gần sông, đất bồi tụ cao hơn (do được lắng đọng nhiều hơn) nơi xa sông thì thấp dần. Việc đắp đê ngăn nước và tác động của sóng, của gió hình thành nên các đụn đất cát, từ đó cũng hình thành nên các vùng đất khác nhau. Những nơi gặp vật cản, nước chảy đổi chiều, phù sa lắng đọng ít hình thành nên các vùng thấp trũng. Lúc đầu dân cư còn ít, cư dân thường chọn nơi đất cao ven sông để định cư. Khi dân số phát triển thì con người đào ao vượt thổ làm đất ở, đào ao để nuôi trồng thủy sản và đắp đất thành vườn và để cấy trông các cây trồng cạn và cây ăn quả. Những nơi đất ruộng cao, việc tưới nước khó khăn nông dân đào bớt đất ruộng đắp lên các cồn đống, dưới cấy lúa, trên cày màu.Việc khơi sông dẫn nước tiêu nước cùng với việc đắp đường giao thông cũng làm thay đổi địa hình tạo nên kiểu địa hình nhân sinh cao thấp khác nhau.

Đặc diêm thố nhưỡng Hải Hậu

Đất đai Hải Hậu non trẻ. Quá trình tạo thành địa hình gắn liền với quá trình phân phối các vật liệu hình thành đất đai: Bao gồm cả vị trí loại đất và thành phần đất. Với nguồn gốc đất đai từ trầm tích sông - biển và biển, lớp đất canh tác của Hải Hậu gồm hai nhóm chính là đất phù sa sông và đất cát vùng ven biển, trong đó nhóm đất phù sa chiếm chủ yếu và luôn được cải tạo, bôi dưỡng của con người. Vùng đất này đất có độ phì cao: độ mùn từ 1 - 2%, hàm lượng các chất dinh dưỡng đạm, lân, kali, đều khá đến tốt, tuy nhiên lân dễ tiêu thường ở dạng trung bình và nghèo. Thành phần cơ giới chủ yếu thuộc đất thịt nhẹ đến trung bình. Tầng canh tác dày, khả năng giữ nước và giữ phân tốt. Màu đất nâu tươi, nơi nhiều mùn đất có màu nâu xám. Tầng đất dày được cải tạo bền vững do kỷ thuật làm ải trong vụ Đông Xuân. Vi khuẩn hảo khí phát triển mạnh. Những năm giữa và cuối thế kỷ XX, khi phân bón hóa học còn hạn chế, việc sử dụng phân chuồng cùng với việc nuôi trồng và sử dụng các cây phân xanh: bèo dâu trong vụ Đông Xuân, điền thanh trong vụ Mùa đã cải tạo và bồi dưỡng tầng đất canh tác ngày càng màu mỡ, việc khai thác và sử dụng triệt để nguồn nước ngọt và phù sa đưa vào ruộng để thau chua rửa mặn, cải tạo đất đã làm cho đất đai Hải Hậu được thay đổi cả về lý tính đất lẫn hóa tính đất.

Vùng đất cát ven biển, bao gồm đất cát bãi, đất cồn cát phân bố dọc theo đê biển. Đất cát bãi nằm ở địa hình phẳng, thường bị ngập nước. Loại đất này được con người cải tạo xây dựng thành các ruộng muối. Vùng đất cát cao không bị ngập nước, đất có màu xám trắng đến nâu nhạt, thành phần cơ giới từ cát đến cát pha, đất nghèo dinh dưỡng, tỉ lệ mùn <1%. Vùng đất này phân bố ở Hải Hòa, Hải Thịnh. Nhân dân cải tạo để gieo trồng các cây trồng cạn như lang, lạc, rau các loại…

Ngoài 2 loại đất trên còn có một số diện tích nhỏ đất phèn nằm ở vùng Hải Phúc. Đất phèn hình thành từ đất mặn xú - vẹt. Đất phèn rất chua, chỉ thích hợp với trồng cói chiếu. Diện tích đất phèn ở Hải Hậu được thau chua rửa mặn và được tải tạo thành vùng nuôi trồng thủy sản nên hầu như không còn tồn tại nữa.

Trải qua năm tháng quai đê lấn biển, đào sông cải tạo ruộng đất, san lấp, đào đắp xây dựng khu dân cư và các công  trình phúc lợi, đến nay đất Hải Hậu có cơ cấu sử dụng như sau:

- Tổng diện tích: 23.022,03 ha.

Trong đó:

+ Đất nông nghiệp: 15.991,8 ha.
    Đất trồng lúa: 11.445,54 ha.
    Đất màu: 450,93 ha.
    Đất cây lâu năm: 1.815,83 ha.
    Nuôi trồng thủy sản: 1.584,87 ha.
+ Đất muối: 493,81 ha.
+ Đất phi nông nghiệp: 6.755,38 ha.
+ Đất chưa sử dụng: 274,24 ha.
+ Đất sông ngòi: 890,73 ha.

Theo kết quả điều tra năm 1984 của phòng nông hóa thổ nhưỡng Sở Nông nghiệp tỉnh Nam Định, thổ nhưỡng Hải Hậu như sau:

Về thành phần vật lý: Đất chủ yếu là đất thịt trung bình (chiếm 45,68%). Đất thịt nhẹ chiếm 25,8% tập trung ở vùng phía Bắc và phía Đông của huyện. Đất thịt nặng chiếm 26,2% tập trung theo dải đất giữa huyện. Đất cát pha chiếm 2,2% nằm tập trung ở vùng ven biển.

Về thành phần hóa học: Chất hữu cơ trong đất chiếm chủ yếu  thuộc loại trung bình, chiếm 70,4% diện tích. Loại khá có 24,6% chủ yếu tập trung ở phía Bắc và vùng Đông Bắc huyện. Đất nghèo mùn chiếm 5% tập trung ở vùng đất cát ven biển.

Về độ chua PH KCl trong dịch đất: Do được thau chua rửa mặn liên tục cho nên đất đai Hải Hậu đã được ngọt hóa. Đất có PH KCl trên 5,5 chiêm 61,4%, đất ít chua (PH KCl 4,5 - 5,5) chiếm 27,4% chủ yếu nằm ở vùng trũng, đất chua (PH KCl < 4,5) có 1,2% nằm chủ yếu ở vùng cuối nguồn nước tướt.

Cùng với cải tạo độ chua, độ mặn cũng được cải tiến. Đến nay chủ yếu là đất không mặn chiếm 98,39% diện tích đất, đất ít mặn chiếm 1,13% diện tích nằm rải rác ờ vùng ven đê biển và các bồi ven sồng vẫn chịu ảnh hưởng của thủy triều.

Từ nguồn gốc của đất, đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng có thể thấy rằng đất đai huyện Hải Hậu là một đồng bằng hiện đại có tầng đất sâu, chủ yếu là đất thịt nhẹ, không chua, không mặn, tích tụ được nhiều chất hữu cơ, khả năng giữ phân, giữ nước tốt, đất đai tương đối bẳng phẳng. Điều kiện đất đai như thế có thể trồng và thâm canh với mọi cây trồng ngắn ngày bao gồm cây lương thực (lúa, ngô, khoai...) các loại cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, lạc) và cây thực phẩm (rau, hoa quả...) và phát triền mạnh mẽ việc nuôi trồng thủy sản. Từ nguồn đất đai đã có, trên cơ sở dặc điểm riêng đất đai từng vùng, Hải Hậu có đủ điều kiện quy vùng sản xuất trên cơ sờ lấy cây lúa là chính phát tnển va mở rộng diện tích trồng các cây phục vụ cho chế biến, xuất khẩu và nuôi trồng thủy sản.

Phân vùng đất Hải Hậu

Nhìn tổng thể, đất đai Hải Hậu tương đối đồng nhất Chi tiết hơn, trên cơ sờ địa hình, thổ nhưỡng có thể phân ra những vùng nhỏ.

Vùng I: Vùng đất phía Bắc huyện Hải Hậu 

Địa lý hành chính thuộc các xã Hải Trung Hải Anh, Hải Minh, Yên Định, Hải Bẳc và Hải Hưng. Đây là vùng đất cổ của Hải Hậu - nơi đất nhát cuốc đầu tiên để khai hoang lấn biển của “Tứ Tính Cửu Tộc” - nằm gọn trong đê Hồng Đức (1470 - 1497) ở phía Nam và đê Cường Giang (đê sông Ninh) ở phía Bắc, phía Tây đường 21. Diện tích 3365 ha; trong đó đất nông nghiệp 2421,7 ha - đất hai vụ lúa là 1824,4 ha, đất màu và đất trồng cây lâu năm là 335 ha, đất ao hồ là 236,3 ha, thổ cư là 1048,5 ha.

Đây là vùng đất có cốt đổi cao nhất ở Hải Hậu: Độ cao đất ruộng từ 0,7 – 0,9 m, độ cao đất màu và đất thổ cư từ 1,5 – 1,8 m. Do vị trí nằm liền kề với sông Ninh Cơ, được phù sa lắng đọng bồi đắp nhiều hơn nên đất cao và có nhiều cồn đất, đồi đất nổi lên trên những khu đất thấp. Khi dân cư còn ít, cư dân sống tập trung ở những khu đất cao. Dân cư ngày một nhiều, khu đất thấp có vị trí thuận tiện cho sinh hoạt, con người cải tạo đào đắp thành đất ở và ao hồ nuôi trồng thủy sản mà hình thành lên một khu ao hồ dày đặc ở phía Bắc các xã Hải Anh và Hải Trung. Phong cảnh “vườn rau, ao cá” là đặc trưng canh tác và sinh hoạt rất phổ biến từ xưa ở vùng đất này.

Nơi đây còn vết tích của 6 con đê cổ của những ngày đầu “khai cơ lập nghiệp”. Nơi đây là ngọn nguồn của những dòng sông chính được đào đắp để lấy nước thau chua rửa mặn, tưới cho cây trồng và cải tạo bồi dưỡng đất cổ xưa. Hiện nay là hệ thống sông Múc, sông Trệ.

Về thổ nhưỡng, đây là vùng đất màu mỡ, tỉ lệ mùn từ 1,5 - 2%, giàu lân, độ PH từ 5,5 - 6,5 (không chua) tầng đất dày, chủ yếu là đất thịt nhẹ và trung bình, khả năng giữ nước và phân cao. Đây là vùng đất có năng suât cây trồng cao, trong lịch sử đây là vùng trung tâm của các giống lúa đặc sản của Hải Hậu như tám xoan, nếp cái hoa vàng, nếp thầu dầu, dự râu… cũng là nơi tập trung có nhiều giống cây ăn quả quý và phong phú như mít, nhãn, hồng, na. Nơi đây mặc dù trải qua bão gió và thời gian nhưng đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cây cổ thụ đã sống hàng trăm năm gắn liền với lich sử khai hoang mở đất. Nơi đây, dân cư đông đúc, bình quân ruộng đất thấp (từ 0,7 - 1 sào Bắc Bộ 1 người) cho nên “tấc đất tác vàng”.

Vùng II: Vùng đất phía Đông của huyện Hải Hậu

Bao gồm các xã: Hải Vân, Hải Nam, Hải Phúc, Hải Hà, Hải Lộc và Hải Thanh. Đất do phù sa sông Sò và sông Ninh Cơ bồi đắp, được khai hoang từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX (vùng phía Bắc được khai hóa sớm cùng thời với vùng I). Tổng diện tích 3386,9 ha, đất nông nghiệp 2478 ha, trong đó đất lúa 1961 ha, đất màu và thổ canh là 240 ha, đất dân cư là 616 ha. Độ cao đất lúa từ 0,4 - 0,6 m, đất màu và khu dân cư cao 1,5 – 1,9 m so với thuỷ chuẩn. Do sự che chắn của các đồi đất cao và hệ thống đê nên hình mành một số vùng đất thấp 0 - 0,2 m thuộc Hải Lộc, Hải Hà, trước đây chỉ cấy một vụ lúa, còn lại thả cá, trồng sen. Vùng đất cao được con người san gạt làm đất ở, hình thành lên các cụm dân cư.

Đất thuộc loại đất thịt nhẹ và trung bình, một số đất cát pha nằm ở cốt đất cao trồng màu ở Hài Phúc, Hải Lộc. Độ phì nhiêu của đất cao, độ mùn từ 15%, đất không chua đến ít chua (PH 5- 6,5), lân dễ tiêu thuộc loại trung bình, vùng đấu Hài Vân, Hài Hưng thuộc loạt kha. Khả năng giữ nước và giữ phân khá. Tầng đất canh tác dầy. Đất ruộng rất thích hợp cho thâm canh lúa, một số khu vực ruộng cao thuộc Hải Hà, Hải Phúc, Hải Lộc có điều kiện chuyển sang cấy 3 - 4 vụ màu trong năm, hoặc một vụ lúa, hai vụ màu. Vùng đất màu Hải Vân, Hải Nam thícch hợp cho thâm canh rau và hoa quả. Vùng đất màu Hải Phúc, Hải Hà thích hơp cho trồng lạc, đậu tương, vùng ruộng trũng Hải Lộc có thể  chuyển đổi nuôi trồng thuỷ sản, thả sen lấy hạt. Vùng ngoài đê sông Sò thuộc Hải  Phúc, Hài Nam có một dải đất thuộc đất phèn, chua mặn, đất có chứa nhiều sắt Fe2(SO4)3 và Al2(SO4)3 khi phân hủy sinh ra axit H2SO4 làm cho đất chua. Đất này hình thành từ đất mặn sú vẹt. Đất phèn chua mặn có độ PH<4 có chứa nhiều chất độc hai như Al3+, SO3, H2S không thuận lợi cho nhiều loại cây trồng, nhưng lại phù hợp cho trồng cói. Trước đây khu vực đất này là nơi trồng cói chính của Hải Hậu, nay do quá trình thau chua, rửa mặn một số diện tích chuyển sang trồng lúa, phần lớn diện tích chuyển sang nuôi trông thuỷ sản.

Khu vực này cũng là vùng tập trung dân cư, bình quân ruộng đất thấp 1 sào/người.

Vùng III: Đây là vùng đất nằm ở giữa huyện Hải Hậu

Bao gồm địa lý hành chính thuộc các xã: Hải Đông, Hải Tây, Hải Quang, Thị trấn Cồn, Hải Tân, Hải Sơn, Hải Phương, Hải Đường, Hải Phú, Hải Cường, và Hải Xuân. Tổng diện tích 8.074 ha, đất nông nghiệp có 5.985,08 ha, trong đó đất lúa 4.547,5 ha, đất màu 199,2 ha, đất cây lâu năm 604,7 ha. Đây là vùng đất được khai hoang từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

Về địa hình, đây là vùng đất thấp của huyện Hải Hậu, cốt đất ruông từ 0,1-0,4 m. Có vùng đất trũng cốt đất 0,1 - 0,2 m thuộc khu vực Hải Quang và Hải Đông; vùng đất cuối Hải Cường và Hải Xuân. Vùng đất màu, thổ cư có độ cao 0,9- 1,2m. Trong đó có một dải đất cao chay ngang từ Hải Phú đến thị trấn Cồn. Ngoài hệ thống kênh mương do con người đào đắp, có sông nội địa Hải Hậu là vết tích của lạch biển còn lại thuộc khu vực giáp giới giữa Hải Quang và Hải Đông.

Về thổ nhưỡng: thuộc loại đất từ thịt nhẹ đến thịt nặng (đất thịt nặng nằm ở phía Nam Hải Đường, Hải Sơn, Hải Tây, Hải Quang). Tỉ lệ mùn trong đất thuộc loại trung bình, đất không chua và chua ít (PH 4,5 – 6,0). Đạm, lân trong đất thuộc loại trung bình. Khả năng giữ nước và giữ phân khá.

Đây là vùng đất thấp trũng, trước đây khi các cống- đập hoành triệt chưa khép kín thì vùng đất này luôn bị lụt đe dọa mỗi khi có mưa bão. Nay đã chủ động được khoanh vùng, tiêu nước nên có điều kiện thâm canh và trở thành vùng lúa có năng suất cao. Vùng đất thịt nhẹ Hải Tây, Hải Tân, Thị trấn Cồn, Hải Cường, Hải Phú có thể chủ động chuyển đổi cấy hai vụ lúa và một vụ đông bằng các giống ngắn ngày: rau, đậu, cà chua, dưa chuột, khoai tây, đậu tương… Vùng đất trũng Hải Quang, Hải Xuân, có thể chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản. Vùng đất cao Hải Cường, Hải Phú, thị trấn Cồn rất phù hợp cho trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, lạc) và rau, hoa cảnh. Đất thổ canh Hải Đường, Hải Phú, Hải Sơn rất phù hợp với việc trồng cây ăn quả có múi (cam, chanh, bưởi) và cây cảnh (quất, đào, quýt…). Bình quân ruộng đất là 1,3 sào/người.

Khu dân cư, ngoài khu đất cao kéo dài từ Hải Phúc đến Cồn, phần lớn các khu dân cư khác bám theo hai bên bờ sông và ven đường do con người quật lập nên từ đất ruộng. Bình quân ruộng đất trên đầu khẩu cao, có điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện.

Vùng IV: Đây là vùng đất phía Tây của huyện Hải Hậu

Địa giới phía Đông là sông Trệ, phía Tây là sông Ninh Cơ, phía Nam là đường 21 và phía Bắc giáp các xã nam sông Ninh Cơ của huyện Trực Ninh. Tổng diện tích 4.283,6 ha, đất nông nghiệp 3.048,5 ha trong đó đất hai vụ lúa 3.425 ha đất màu 76,9 ha, đất thổ canh 277 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 269 ha, đất thổ cư và các công trình phúc lợi 989,5 ha. Đây là vùng đất được khai hoang từ thế kỷ XIX, có sông cổ Ngòi Cau chạy ngang các xã Hải Phong, Hải Toàn, Hải An. Cũng là vùng có nhiều cống tiêu nước của cả huyện Hải Hậu ra sông Ninh Cơ.

Về địa hình: Đây là vùng đất thấp, đất ruộng có độ cao 0,3 – 0,5 m so với thủy chuẩn. Đất màu và thổ cư 0,7 - 0,9 m. Có một vùng đất cao chạy ngang từ cống Ninh Mĩ qua Hải Giang, Hải Phong tiếp đến Hải Phú.

Về thổ nhưỡng: Vùng Hải An, Hải Toàn, Hải Phong thuộc loại đất thịt nhẹ đến trung binh, Hải Giang, Hải Ninh thuộc vùng đất thịt trung binh đến thịt nặng. Hải Châu đất thịt trung bình. Tỉ lệ mùn trong đất thuộc loại trung bình, tỉ lệ lân, đạm đang từ khá đến trung bình. Trước đây do việc tưới tiêu khó khăn đây là vùng đất chua mặn, nay được ngọt hóa dần, đất ở dạng ít chua (PH: 4,5 – 5,5). Do là cuối nguồn tưới nên chất lượng nước tưới không cao.

Cây trồng chính là cây lúa, do đặc điểm thổ nhưỡng thích hợp và do tập quán canh tác nên hình thành tại đây tại đây vùng lúa đặc sản (tám, nếp) của Hải Hậu. Vùng cấy lúa vụ mùa cấy 80 – 90% diện tích lúa là lúa nếp, tám. Vụ lúa xuân cấy lúa tẻ. Khu dân cư một phần là tại các dải đất cao, phần lớn là quật lập từ đất ruộng hoặc bám theo hệ thống sông, đường sá. Bình quân ruộng đất cao trên 1 sào/người.

Vùng V: Được xác định ranh giới là phía ngoài cửa đường 21, phía trong của đê sông, đê biển,

Bao gồm đất của các xã Hải Thịnh, Hải Hoà, Hải Chính, Hải Triều và Hải Lý. Tổng diện tích 3.796 ha, đất nông nghiệp là 2.195,9 ha trong đó đất làm mụối là 414 ha, đất thuỷ sản 253,7 ha đất lúa 880 ha (Hải Thịnh, Hải Hòa, Hải Lý) đất màu 124 ha, đất rừng 100 ha, đất thổ cư 1.414,7 ha, đất chưa sử dụng 186 ha . Vùng đất này được khai hoang từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Đất được hình thành do bồi tụ của biển.

Về địa hình: Vùng giáp đê biển của Hải Thịnh, Hài Hoà hình thành vùng đất cao, bằng phẳng có độ cao 1,1 - 1,2 m so với mặt biển. Vùng giáp đường 21 của Hải Thịnh , Hải Hoà là khu vực thấp: độ cao 0,1 - 0,2 m. Vùng Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều và Hải Hoà độ cao ruộng muối 0,3 - 0,5mm, trên cánh đồng muối được san gạch nên khả bằng phẳng.

Thành phần cơ giới: đất màu chủ yếu là đất cát pha, vùng Hải Hoà là đất thịt nhẹ. Đất ruộng lúa thuộc dạng đất thịt nhẹ, đất cát pha. Một số diện tích vùng Hải Hoà, Hải Thịnh là đất thịt trung bình. Đất ruộng muối là đất cát.

Về thổ nhưỡng: là vùng đất giáp đê biến và cuối nguồn nước nên diện tích lúa còn bị nhiễm mặn nhẹ, đất chua đến ít chua PH từ 4,5 - 5,5. Mùn trong đất thuộc dạng trung bình. Lân và kali thuộc dạng đất nghèo. Khả năng giữ nước, giữ phân trung bình. Đất màu đỏ mùn trung bình, khả năng giữ nước và giữ phân kém. Vùng đất cao ven sông ven biển là đất cát, tỉ lệ mùn, lân, kali thấp, giữ nước kém. Đất ruộng muối do mục đích sản xuất nên là đất mặn.

Đây là vùng đất giáp biển của Hải Hậu, biển Hải Hậu là vùng biểu lấn, bãi thoái diện tích đất bị xói mòn dần do biến lấn, nhiều diện tích phải sử dụng để củng cố và đắp đê mới.

Với vị trí đất đai, sản xuất chính của vùng này là sản xuất muối (Hải Triều, Hải Chính, Hải Lý)  vùng Hải Thịnh, Hải Hoà có diện tích đất màu tập  trung thích hợp cho trồng cây rau, màu, lạc, đậu, đỗ. Vùng đất lúa có thể chuyển  đổi một phần sang nuôi trồng thuỷ sản, một phần sang trồng màu. Đây cũng là vùng có điều kiện nuôi trồng thuỷ sản - tôm cá nước mặn, nước lợ. Thị trấn Thịnh Long có cửa biển, có cầu cảng, có bãi tắm và khu du lịch, đất đai có thể thay đổi phương hướng và cơ cấu cây trồng để phục vụ cho xuất khẩu, du lịch, chế biến nông hải sản.

Vùng châu thổ ngầm Hải Hậu

Phần châu thổ ngầm được xác định từ bờ biển hiện tại đến phần ảnh  hưởng của sông ra xa nhất đưa nước ngọt làm nhạt nước biển cũng đưa phù  sa ra bồi đắp bãi triều ngầm. Châu thổ ngầm ở Hải Hậu ngày nay có một phần là vùng đất ngoài đê biển, có chỗ là vùng đất trong đê biển của thế kỷ XIX - XX do biển lấn. Theo tạp chí văn hóa nghệ thuật “Hải Hậu một vùng quê văn hóa vùng biển và thềm lục địa rộng 6.900 km2. Bờ biển sâu, có cửa sông Ninh tàu trọng tải lớn có thể đi lại dễ dàng. Vùng biển Hải Hậu cũng là vùng có vị trí rất quan trọng trong quân sự, bảo vệ an ninh tổ quốc.

Châu thổ ngầm ở Hải Hậu mang tính chất chí tuyến gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm của nước biển đo được tại Văn Lý là 25o2, tháng lạnh nhất là 18°2 (tháng 2) nhiệt độ nóng nhất là 30°C (tháng 7) biên độ là 11o8. Độ mặn trung bình của nước biển là 24,4‰. Độ mặn phụ thuộc rất lớn vào quy luật lũ - cạn của sông Hồng và sông Ninh Cơ. Các tháng mùa khô (nước nguồn đổ ra biển ít) độ mặn trung bình tháng cao nhất là tháng 1 là 28,3‰, các tháng mùa lũ, nước biển có độ mặn thấp nhất 19‰ vào tháng 7- 8- 9, biên độ mặn là 9,3‰. Xét về độ mặn cực trị rất lớn: Độ mặn cực đại lên tới 33,6‰, còn biên độ cực tiểu chỉ có 1,4‰ (thậm chí có lúc chỉ có 0,5‰).

Với điều kiện nhiệt độ và độ mặn của nước biến như thế nên sinh vật biển có độ rộng nhiệt và độ rộng muối cao.

Thuỷ triều ở Hải Hậu thuộc vùng nhật triều (mỗi ngày một lần nước lên, một lần nước xuống) nhưng tính điển hình đã yếu (trong tháng thường xuất hiện 4-5 ngày thuỷ triều hai lần lên và hai lần xuống,). Các tháng có đỉnh triều cao là 9 – 10 – 11 - 12, đỉnh triều cao nhất đo được tại Văn Lý là 3,88 m. Đỉnh triều thấp nhất là các tháng 2 - 3- 4 (độ cao thấp nhất đo được là -0,11m).

Gió vùng ven biển Hải Hậu với tốc dộ trung bình 3,8m/s gió ngoài khơi 6 - 7m/s. Trong mùa Đông, khi gió mùa Đông Bắc tràn về với tốc độ mạnh có lúc lên tới 18 - 20m/s. Mùa mưa bão, khi bão đổ bộ vào vùng đồng bằng Bắc Bộ, tốc độ gió tới 40- 48m/s, gió giật có thể đạt trên cấp 12.

Do chế độ gió mùa nên dòng hải lưu ven bờ có sự đổi hướng theo mùa, tốc độ dòng chảy cũng tuỳ thuộc tốc độ của gió. Vào thời gió mùa Đông Bắc, dòng biến chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, tốc độ dòng chảy khoảng 25 - 30 cm/s, nước biển vùng vịnh Bắc Bộ xuất hiện hệ thống vòng tròn chạy ngược chiều kim đồng hồ. Đến mùa gió mùa Tây Nam, thì dòng biển chảy theo bướng Tây Nam- Đông Bắc, tốc độ dòng chảy khoảng 15 - 20cm/s, nước biển Vịnh Bắc Bộ hình thành hệ thống vòng tròn chạy thuận chiều kim đồng hồ. Vùng biển Hải Hậu là phần ven bờ của các dòng xoáy vòng tròn đó. Việc lẳng đọng bồi đắp hay bào mòn vùng châu thổ ngầm chịu ảnh hưởng của độ cao, biên độ thuỷ triều, hướng và tốc độ các dòng chảy ven bờ của vùng châu thổ đó.

Vùng biển Hải Hậu chịu tác động của hai nguồn phù sa cùa hai cửa sông là cửa Ba Lạt của sông Hồng và cửa Lạch Giang sông Ninh Cơ. Về mùa Đông (mùa khô) nguồn nước từ thượng nguồn kém, nguồn phù sa ít, dòng chảy từ Đông Bắc xuống Tây Nam, tốc độ lắng đọng phù sa không đáng kề vùng phía Nam biển đồng bằng Bắc Bộ. Về mùa hè với nguồn phù sa dồi dào, dòng chảy biển theo hướng Tây Nam - Đông Bắc với tốc độ chậm, kéo phù sa và lắng đọng vùng cửa Ba Lạt. Đoạn châu thồ ngầm và bờ biển Hải Hậu nằm ở giữa hai dòng xoáy di chuyển của hai mùa, năng lượng tải dòng dư thừa mài mòn dần bão biển gây lên tình trạng biển lấn, biển thoái. Tốc độ mài mòn bờ biển từ thế kỷ XX đến nay tới 15m/năm.

Tốc độ gió trung bình ở vùng biển Hải Hậu nhỏ nên sóng biền cũng không lớn. Số ngày lặng sóng trong mùa hè tới 20% và trong mùa Đông khoảng 10%. Sóng cấp 2- 3 chiếm 60 - 70%, sóng mạnh cấp 5- 6 chiếm 20- 30% trong mùa gió Đông Bắc và 10- 20% trong mùa gió Tây Nam. Khi bão thì sóng rất lớn, sóng có thể cao tới 4 - 5m. Bão lớn vào kỳ triều cường thì sức tàn phá bãi bờ thật khủng khiếp, sóng tràn nước qua đê, sóng xói mòn chân đê và thậm trí phả huỷ đê.

Do vùng châu thồ ngầm Hải Hậu thuộc vùng bãi thoái, biển lấn, nguồn thức ăn không dồi dào, nguồn thủy hải sản ven bờ ngày bị cạn kiệt dần. Việc đánh bắt có thể tiền hành quanh năm, sản phẩm thu được cũng theo mùa. Việc khai thác ven bờ kém hiệu quả. Tài nguyên trong địa tầng biển Hải Hậu hy vọng tìm thấy dầu khí bởi là vùng nằm trong khu vực có thể có dầu khí của khu vực sông Hồng – vịnh Bắc Bộ.

 

Bình luận Khái quát đất đai Huyện Hải Hậu - Nam Định

Bài viết mới về gạo