Khái quát khí hậu - thủy văn Hải Hậu

Ngày   19:48:56, 19-08-2017 Tác giả Mai Đức Thạch

Khí hậu - thuỷ văn có quan hệ chặt chẽ với nhau và gắn kết với vị trí địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhường. Vị trí địa lý quyết định đến bức xạ nhiệt, gió, nhiệt độ. Bức xa nhiệt, gió, nhiệt độ quyết định đến lượng bốc hơi nước và chế độ mưa. Lượng mưa và thuỷ chế của sông, thuỷ triều tác động đến quá trình xâm thực, bồi đắp tạo thành địa hình, địa chất và thổ nhưỡng của đất. Địa hình, địa chất (và tác động của con người) tác động đến mạng lưới thuỷ văn. Việc nghiên cứu và nắm vững được quy luật diễn biến của khí hậu, thuỷ văn là một khâu không thể thiếu trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.

Khí hậu Hải Hậu

Đặc điểm chung khí hậu Hải Hậu

Hải Hậu nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, nên mang tính chất chung của khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ: khi hâu chí tuyến gió mùa, có mùa mưa ẩm và mùa đông khô. Nhưng Hải Hậu là vùng đất ở vị trí ven biển nên khí hậu có những đặc điểm riêng: Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp hơn (nhiệt độ mùa hè thấp hơn và nhiệt độ mùa đông cao hơn) và lượng mưa trung bình hàng năm cao hơn so với các vùng nội địa của tỉnh Nam Định. Tốc độ gió trung bình cũng cao hơn. Do có sự chênh lệch bức xạ nhiệt ngày đêm giữa biển cả mênh mông và lục địa nên Hải Hậu chịu ảnh hưởng trực tiếp dòng đối lưu không khí giữa đất liền và biển Đông tạo nên không khí ôn hoà hơn giữa ngày và đêm và giữa các mùa trong năm. Mùa xuân ở Hải Hậu có độ ẩm cao, nhiều hơi nước. Gió may yếu không đẩy hơi nước ra biến được, ngược lại gió Đông Nam chưa đủ manh để đưa hơi nước vào sâu trong nội địa nên gây ra mưa phùn. Với những đặc trưng về nhiệt độ, độ ẩm… huyện Hải Hậu có khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm có mùa Đông lạnh với hai tháng nhiệt độ trung bình dưới 18oC, có mùa khô kéo dài tới bốn tháng (thành phố Nam Định hai tháng). Đây cũng là đặc điểm chung của vùng khí hậu ven biển đồng bằng Bắc Bộ.

Các yếu tố khí hậu Hải Hậu

Nắng và chế độ bức xạ nhiệt ở Hải Hậu

Theo số liệu theo dõi của trạm khí tượng Văn Lý tổng số giờ nắng trong các tháng và cả năm ở Hải Hậu cao hơn so với các vùng trong nội địa. Cụ thế số giờ nắng ở Văn Lý là 1740,2 giờ/năm thì ở Hà Đông là 1630,6 giờ/năm ở thành phố Nam Định là 1665,1 giờ/năm. Thời gian nắng phân thành hai mùa rõ rệt: mùa nắng nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng ít từ tháng 11 đến tháng 4. Với tổng số giờ nắng cao trong năm, huyện Hải Hậu được hưởng một chế độ bức xạ mặt trời phong phú với tổng xạ 120 - 122 kcal/cm²/năm.

SỐ GIỜ NẮNG TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (giờ)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
88
44,1
44,5
96,9
217,5
196,8
230,4
180
180,1
184,6
148,8
129,4
1740,2
TP Nam Định
78
39,2
43,9
97,6
202,1
185,9
222,5
174,1
178,2
174,6
145,1
129,3
1665,1

 Biểu đồ số giờ nắng trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu - Nam Định

Số giờ nắng trong năm nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 1179,3 giờ bằng 67,8% tổng giờ nắng trong cả năm, tháng 7 là tháng có giờ nắng nhiều nhất (230,4 giờ/tháng). Tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 2 và tháng 3 (44 - 45 giờ/tháng) trời nhiều mây, thường có mưa phùn, ẩm ướt.

Số giờ nắng kéo dài, bức xạ nhiệt phong phú là điều kiện tốt để cây trồng tăng cường độ quang hợp đạt năng suất cao, cũng là điều kiện thuận lợi cho ruộng muối ở Hải Hậu có năng suất cao và trở thành vùng muối chính của Bắc Bộ.

Chế độ gió và bão ở Hải Hậu

Các hướng gió chính theo mùa

Về mùa hè: Hướng gió chủ yếu là gió Đông- Nam và gió Nam. Những ngày gió Lào hoạt động mạnh thì hướng gió Tây Nam cũng xuất hiện nhưng cường đó yếu.

Về mùa Đông: Gió Bắc và Tây Bắc hoạt động mạnh, nhất là trong những đợt có khí hậu lạnh tràn về. Hàng năm, huyện Hải Hậu chịu ảnh hưởng của trên 20 đợt gió mùa Đông Bắc.

Ngoài các hướng gió chính theo mùa còn có gió đối lưu mang tính khu vực ven biển do sự chênh lệch áp suất không khí giữa ngày và đêm của biển và đất liền.

Tốc độ gió

Tốc độ gió khu vực Hải Hậu luôn cao hơn vùng nội địa của tỉnh Nam Định. Tốc độ gió trung bình hàng năm đo được tại Văn Lý là 3,8 m/giây, trong lúc đó tại thành phố Nam Định là 2,3 m/giây.
TỐC ĐỘ GIÓ TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (m/s)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
3,7
3,7
3,8
3,8
4,2
4,1
4,4
3,3
3,4
3,7
3,6
3,8
3,8
TP Nam Định
2,4
2,3
2,0
2,3
2,4
2,3
2,4
2,0
2,2
2,5
2,2
2,3
2,3

Biểu đồ tốc độ gió trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu - Nam Định

Tốc độ gió trung bình mạnh nhất từ tháng 5 đến tháng 7 (trên 4m/s), tháng 7 là tháng có tốc độ gió trung bình cao nhất (4,4m/s) trong năm. Tốc độ gió cực đại xuất hiện vào các tháng 7, 8, 9 lên tới 48m/s. Bão từ biển Đông thường hình thành từ tháng 6 đến hết tháng 9, bão thường đổ bộ vào đất liền trong tháng 8 và  tháng 9. Do là huyện ven biển nên hầu như các trận bão đổ bộ vào đồng bằng Bắc Bộ, huyện Hải Hậu đều bị ảnh hưởng với tốc độ gió lớn nhất, tốc độ gió lên tới cấp 12 và trên cấp 12 gây hậu quả thiệt hại nặng nề: vỡ đê, ngập úng, đổ nhà, đổ ngã cây trồng… Theo nhât ký đại cương- Lịch sử xã Hai Trung ghi Iại thì từ giữa thế kỷ XIX đến 1945 Hải Hậu đã có những trận bão lớn vào các năm 1781, 1809, 1829, 1838, 1840, 1844, 1847, 1856, 1867, 1884, 1887, 1889, 1892, 1897, 1903, 1904, 1910, 1916, 1921, 1926, 1927, 1929, 1937, 1940, 1943, 1944 nhiều năm có tới 5-6 trận bão, có năm 1 tuần 3 trận bão. Trước năm 1945 mỗi khi có bão lớn đều gây mất mùa (chủ yếu là cây lúa mùa) gây đói kém, chết người, mất của.. .Ngoài bão xuất hiện từ biển Đông để bộ vào đất liền, trong tháng 5 và tháng 10 có sự chuyển giao từ mùa khô sang mùa mưa và ngược lại từ mùa mưa sang mùa khô thường xuất hiện những trân cuồng phong kèm theo giông tố ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và dân sinh.

Chế độ nhiệt không khí ở Hải Hậu

Nhiệt độ không khí chịu ảnh hưởng, phu thuộc vào bức xạ mặt trời và sự hoàn lưu của tầng khi quyển. Theo số liệu đo đạc ghi chép thì nhiệt độ không khí của Hải Hậu (trạm Văn Lý) và trạm thành phố Nam Định như sau:

NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (ĐỘ C)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
16,5
16,7
19
22,8
27,1
28,8
29,4
28,7
28
25
21,8
18,5
23,5
TP Nam Định
16,7
17,3
19,8
23,5
27,3
29
29,3
28,6
28
24,9
21,8
18,4
23,7

Biểu đồ nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu

Nhiệt độ trung bình năm 23o5 tương đương như các vùng khác trong đồng bằng Bắc Bộ. Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là tháng 7 (29o4) và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1 (16o5) biên độ nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 12o9 cũng tương đương như biên độ của các vùng khác của tỉnh Nam Định (TP Nam Định 12o6). Tuy nhiên do ảnh hưởng của biển nên nhiệt độ của các tháng mùa Đông và mùa Xuân có thấp hơn và nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè lại cao hơn so với các vùng đất sâu hơn trong nội địa.

NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ CAO NHẤT TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (ĐỘ C)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
18,7
18,5
20,8
24,7
29,4
31,2
31,6
31,2
30,1
28
24,7
21,1
25,8
TP Nam Định
19,2
19,5
22,3
26,5
31
32,4
32,7
31,6
30,3
28
24,9
21,5
26,6

Biểu đồ nhiệt độ không khí cao nhất trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu

NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ THẤP NHẤT TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (ĐỘ C)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
14,6
15,3
17,7
21,4
25,2
26,6
27,1
26,2
25
22,4
19,2
16
21,4
TP Nam Định
14
15,3
17,8
21,4
25,4
26
26,5
26
25
22,3
18,9
15,5
21,1

Biểu đồ nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu

Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình các tháng và năm thấp hơn so với thành phô Nam Định. nhưng nhiệt độ thấp nhất trung bình các tháng và cả năm lại cao hơn, điều đó thể hiện sự ôn hoà hơn của nhiệt độ ở Hải Hậu so vói các vùng sâu trong nội địa.

Từ số liệu theo dõi về nhiệt độ trung bình, cao nhất trung bình và nhiệt độ thấp nhất trung bình của các tháng thấy rõ sự phân chia 4 mùa trong năm:

Mùa Xuân: Tháng 3, tháng 4: nhiệt độ trung bình khoảng 20°C đến thấp hơn 25°C. Nhiệt độ thấp nhất trung bình không nhỏ hơn 15°C.

Mùa Hạ: Từ tháng 5 đến tháng 9: các tháng có nhiệt độ trung bình cao hơn 25°C, nhiệt độ thấp nhất trung bình cũng cao hơn 25°C và nhiệt độ không khí cao nhất trung bình trên dưới 30°C. Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối 37- 38°C. Trong đầu mùa hạ, vẫn còn những đợt không khí lạnh cuối vụ tràn về nhưng nhiệt độ không khí không ở mức độ gây rét độc, rét hại.

Mùa Thu: Tháng 10 và tháng 11: Nhiệt độ không khí trung bình 20 - 25°C, thấp nhất trung bình trên dưới 20°C, nhiệt độ không khí cao nhất trung bình không qúa 30°C.

Mùa Đông: từ tháng 12 đến hết tháng 2: Nhiệt độ trung bình không khí dưới 20°C, nhiệt độ thấp nhất trung bình dưới 15°C, nhiệt độ cao nhất trung bình cũng chỉ trên dưới 20°C. Trong mùa Đông nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối xuống thấp 6°C vào tháng 12. Các tháng mùa Đông có nhiều đợt không khí lạnh tràn về, dẫn đến những đợt rét đậm rét độc kéo dài (đặc biệt mùa Đông 2007 đợt rét độc rét hại kéo dài tới 39 ngày liên tiếp).

Diễn biến của nhiệt độ trong các tháng của năm cũng như nhiệt độ trung bình của năm thể hiện rõ tính chất cơ bản của khi hậu huyện Hải Hậu là khí hậu nhiệt đới, nhưng ôn hoà hơn do ảnh hưởng của biển.

Tống nhiệt độ năm là 8.677,5°C (cao hơn so với bình quân của tống nhiệt đó toàn tỉnh Nam Định) trong đó tổng nhiệt độ của mùa nóng (tháng 5 đến hết tháng 9) chiếm trên 60% tổng nhiệt độ cả năm. Chế độ nhiệt cùng với thời gian chiếu sáng và bức xạ mặt trời trong mùa nóng đầy đủ thuận lợi trùng với thời gian lúa chiêm xuân và vụ lúa mùa trỗ chín thuận lợi, nên có năng suất cao. Nhiệt độ trong các tháng mùa Đông cũng khẳng định không thể bố trí một vụ lúa trỗ chín trong các tháng mùa Đông (tháng 12 đến tháng 2).

Chế độ mưa ở Hải Hậu

LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (ĐỘ C)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
25,8
34
37,6
70,1
131,5
185,4
211,3
339,5
395,3
226,7
80,6
22,1
1759,9
TP Nam Định
27,8
35
50,8
81,6
174,7
192,7
230,2
352,2
347,7
194,6
67,5
29,2
1757

Lượng mưa trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu
Sô liệu ghi chép cho thấy tổng lượng mưa hàng năm ở Hải Hậu tương đương như các vùng trong tỉnh Nam Định và các tỉnh trong đồng bằng Bắc Bộ (Hải Hậu 1.759mm, TP Nam Định 1.757mm, tỉnh Hưng Yên 1.729mm, tỉnh Ninh Bình 1.828mm). Về lượng mưa trong tháng: Nếu xếp các tháng có lượng mưa trên 100mm là các tháng có mưa nhiều thì các táng mưa nhiều là từ tháng 5 đến hết tháng 10, tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 (395,3mm) tháng 8 (339,5mm) các tháng mưa ít là tháng 11 đến tháng 4 (các tháng mưa ít chỉ chiếm 5,3% tổng lượng mưa cả năm).

SỐ NGÀY MƯA TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
9,2
13,3
15,1
11
9,7
12,1
9,8
15,2
16,2
13,8
9,1
6,5
21,4

Số ngày mưa trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu

Cả năm có 141 ngày có mưa.

Tháng 3 có 15,1 ngày có mưa nhưng lượng mưa chi có 37,6mm chính là thời kỳ mưa phùn, gió bấc, ẩm ướt, nhiệt độ mát. Tháng 8, tháng 9 cũng là tháng có số ngày mưa nhiều trên 15 ngày và là các tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm. Mưa lớn trong các tháng 8 và 9 gắn liền với sự hình thành áp thấp nhiêt đới và bão trong khu vực biển Đông. Lượng nước mưa lớn nhất trong một ngày của các tháng được trạm khí tượng Văn Lý do được như sau:

Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Lượng mưa
89,7
66
52,7
90,5
160,7
191,8
191,7
346,6
377,2
276,9
191,7
73,5
Ngày/tháng/năm
02/01/1979
08/02/1973
01/03/1960
20/04/1970
27/06/1978
30/07/1959
30/07/1959
26/08/1973
26/09/1973
25/10/1971
09/01/1963
05/12/1974
Trận mưa lớn nhất được ghi lại vào ngày 26/09/1973 đạt 377,2mm.

Lượng mưa và thời gian mưa trong các tháng cũng cho thấy rõ là tháng 4 là tháng chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa và tháng 11 là tháng chuyển tiếp từ mùa mưa sang mùa khô.

Chế độ bốc hơi nước ở Hải Hậu

LƯỢNG NƯỚC BỐC HƠI TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (mm)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
59,2
38,9
35,8
47,2
93
111,1
125,5
99,7
92,8
101,9
92
76,7
937,8
TP Nam Định
55,2
40,9
39,4
50,7
86,8
92,9
104,7
77,5
69,4
79,3
72,4
66,7
853,9

Biểu đồ lượng nước bốc hơi trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu

Hải Hậu nằm trong giải có lượng bốc hơi nước cao trên 900 mm/năm – vùng dọc theo bờ biển. Lượng bốc hơi nước liên quan với chế độ nhiệt, chế độ mưa và chế độ bức xạ. Tháng 2, tháng 3 lượng bốc hơi nước thấp nhất bởi trời nhiều mây, có mưa phùn, số giờ nắng ít và nhiệt độ còn thấp.

Các tháng 5,6,7,8,9 là các tháng có lượng bốc hơi nước cao (nhất là tháng 7, lượng bốc hơi là 125,5mm) là bởi các tháng này nắng nhiều, nhiệt độ cao, ít mây, gió mạnh. Tháng 10 và tháng 11 lượng bốc hơi nước còn cao là vì số ngày mưa đã giảm, nhiệt độ vẫn còn cao, trời quang, ít mây và hanh khô.

Nếu tính những tháng có lượng bốc hơi nước cao hơn và tương đương với lượng mưa cùng tháng thì các tháng 1,2,3,11,12 là các tháng mùa khô ở Hải Hậu. Mùa khô ở Hải Hậu kéo dài hơn so với mùa khô ở các vùng sâu trong nội địa (TP Nam Định).

Chế độ mây ở Hải Hậu

LƯỢNG MÂY TỔNG QUAN TRUNG BÌNH THÁNG VÀ NĂM (% bầu trời)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
7,9
9,1
9,2
8,5
7,2
7,6
7,5
7,9
6,7
6
6,1
6,5
7,5
TP Nam Định
7,8
9
9
8,3
7,3
8,2
7,7
8,3
7,1
6,3
6,3
6,7
7,7

Lượng mây tổng quan trung bình các tháng trong năm ở Hải Hậu

LƯỢNG MÂY TỔNG QUAN TRUNG BÌNH THẤP NHẤT THÁNG VÀ NĂM (% bầu trời)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
7,5
8,7
8,7
7,3
4,9
4,4
3,4
4,4
4,5
4,9
5,4
6,1
5,8
TP Nam Định
7,6
9
9
7,7
5,2
4,5
3,6
4,2
4,6
4,6
5,3
6
5,9

Lượng mây tổng quan nhiều kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9 (mây che trên 70% bầu trời) lượng mây tầm thấp xuất hiện nhiều từ tháng 1 đến tháng 4 (mây che trên 73% bầu trời) cũng là tháng ít mưa, nhiệt độ thấp. Lượng mây tổng quan và mây tầm thấp cực đại là tháng 2, tháng 3 (chiếm 97% bầu trời). Mây tầm thấp xuất hiện ít từ tháng 5 đến hết tháng 11 và ít nhất là tháng 7 (chiếm 36% bầu trời) trùng với tháng có số giờ chiếu nắng cao nhất (230,4 giờ/tháng) nhiệt độ không khí cao nhất (29,4oC) và tốc độ gió trung bình cao nhất (4,4m/s) trong năm.

Chế độ không khí ở Hải Hậu

Độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm tương đối trung bình của không khí trung bình hàng tháng và hàng năm như sau:

ĐỘ ẨM TUYỆT ĐỐI TRUNG BÌNH CỦA KHÔNG KHÍ THÁNG VÀ NĂM (mb)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
16,3
17,4
20,5
25,5
31,1
33,3
33,7
33
30,9
26,3
21,6
17,9
25,6
TP Nam Định
16,4
17,7
21,3
25,8
30,5
32,6
33
32,9
30,8
26,1
21,7
16,9
25

Độ ẩm tuyệt đối trung bình của không khí các tháng trong năm ở Hải Hậu

ĐỘ ẨM TƯƠNG ĐỐI TRUNG BÌNH CỦA KHÔNG KHÍ THÁNG VÀ NĂM (%)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Văn Lý
85
89
92
91
86
83
82
84
84
82
81
82
85
TP Nam Định
85
88
91
89
85
83
82
85
85
83
82
82
85

Độ ẩm tương đối trung bình của không khí các tháng trong năm ở Hải Hậu 
Độ ẩm tuyệt đối (mb) liên quan và phụ thuộc vào nhiệt độ các tháng từ tháng 5 đến tháng 9: nhiệt độ trung bình tháng trên 25"C, độ ẩm tuyệt đối cũng cao trên 30mb. Tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất (16o5) thì cũng là tháng có độ ẩm tuyệt đối thấp nhất (16,3mb). Tháng 3, tháng 4 và tháng 9, tháng 10 độ ấm tuyệt đối từ 21-26 mb biếu hiện rõ tính trung gian chuyển tiếp giữa mùa lạnh sang mùa nóng và từ mùa nóng sang mùa lạnh. Độ ẩm tương đối được tính bằng % lượng nước hiện có trong không khí so với lượng nước tối đa mà không khí có thể chứa được trong điều kiện nhiệt độ thời điểm đó, lượng nước tối đa mà không khí có thể chứa được lại phụ thuộc vào hiện trạng của mưa, lượng bức xạ và lượng mây. Những ngày có mưa, nhiều mây, bức xạ thấp thì độ ẩm tương đối cao. Các tháng 2-3-4 do ảnh hưởng của mưa phùn, lượng mây nhiều, ánh sáng ít, độ ẩm tương đối đạt trên dưới 90%. Tháng 8, tháng 9 cũng có độ ẩm tương đối có trị số cao 84%. Hai giai đoạn là tháng 3- tháng 4, tháng 8- tháng 9 trùng với thời gian lúa xuân và lúa mùa đứng cái, làm đòng trong điều kiện ẩm độ cao, nhiệt độ thích hợp, rất thuận tiện cho sâu và bệnh phát sinh, phát triển và gây hại - đặc biệt là bệnh khô vằn, đạo ôn và sâu cuốn lá. Tháng 10, 11, 12 là các tháng cuối mùa thu đầu mùa đông: trời quang, ít mưa, nhiệt độ giảm thấp nên độ ẩm thấp (81 - 82%) gây cảm giác trời khô hanh, tháng 6, tháng 7 khí hậu chuyển sang mùa mưa, nhưng nhiệt độ không khí tăng cao, số giờ chiếu nắng nhiều dẫn đến giới hạn của lượng nước có trong không khi tăng cao nên ẩm độ tương đối giảm.

Thủy văn Hải Hậu

Hải Hậu là vùng đất cuối sông, đầu biển nên nguồn nước vô cùng phong phú. Với lượng nước mưa trung bình đạt 1750mm một năm. Số ngày có mưa trên 140 ngày/năm đã là vùng có nước trời đủ tưới cho cây trồng, đủ nước uống cho chăn nuôi và cho cuộc sống của con người. Hải Hậu có 2 hệ thống sông là sông Ninh Cơ nằm phía Bắc, phia Tây và sông Sò phía Đông, tải nguồn nươc vô tận từ thượng  nguồn đồ về với hàng tỉ m3 nước, hàng chục triệu tấn phù sa. Hải Hậu có trên 33km bờ biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều. Với tác động của ba nguồn nước mặt vô cùng phong phú là thuận lợi lớn nhưng cũng gây không ít khó khăn. Con người sống trên mảnh đất này xử lý ra sao để khai thác nguồn nước quý giá đó, đồng thời cũng phải đầu tư trí tuệ, sức lực, của cải, tiền bạc để chế ngự hạn chế tác hại của các nguồn nước đó. Từ thời khai cơ lập nghiệp, tổ tiên ta đã lấy việc đắp đê ngăn nước, đào sông dẫn thủy nhập điền, lấy nước đầu nguồn thau chua rửa mặn, cải tạo đồng ruộng, thâm canh cây trồng. Việc đắp đê, khơi sông, ngăn nước, dẫn nước và tiêu nước là biện pháp hàng đầu đảm bảo cho an sinh xã hội từ thời mở đất và đến mãi mai sau. Trải qua đời này sang đời khác, năm này sang năm khác nhân dân Hải Hậu đã xây dựng nên một hệ thống kênh mương ngang dọc, một hệ thống đê sông đê biển kiên cố, một hệ thống cống tưới cống tiêu ngày thêm hoàn chỉnh, khép kín - một công trình đồ sộ ít nơi có được - để đáp ứng cho cải tạo và bảo vệ đất, cho thâm canh và bảo vệ cây trồng con nuôi, cho an sinh xã hội.

Thủy chế một số sông chính

Sông đầu nguồn

Sông Ninh Cơ
Sông Ninh Cơ là chi nhánh của sông Hồng đổ ra biến, đầu nguồn tại xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường, đổ ra biển tại cửa Lạch Giang (Thị trấn Thịnh Long). Sông dài 43km, đoạn cung cấp nước cho Hải Hậu dài 30km tính từ cống Rộc. Sông Ninh Cơ là ranh giới tự nhiên giữa huyện Hải Hậu và huyện Trực Ninh ở phía Bắc. Ranh giới tự nhiên giữa huyện Hải Hậu và huyện Nghĩa Hưng ở phía Tây. Sông Ninh Cơ đi qua các xã: Hải Trung, Hải Anh, Hải Minh, các xã Trực Đai, Trực Thái, Trực Cường, Trực Phú, Trực Hùng (của huyện Trực Ninh), Hải An, Hải Giang, Hải Ninh, Hải Châu và thị trấn Thịnh Long. Hàng năm sông Ninh Cơ nhận được 7 tỉ m3 nước và khoảng 15 triệu tấn phù sa của sông Hồng. Sông Ninh Cơ cung cấp hầu như toàn bộ nguồn nước tưới cho huyện Hải Hậu và các xã phía Nam sông Ninh Cơ của huyện Trực Ninh.

Nước của sông Ninh Cơ phụ thuộc vào nước mưa từ đầu nguồn của hệ thống sông Hông, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11. Cao trình trong ngày và các tháng của nước phụ thuộc vào thuỷ triều và nguồn nước đầu nguồn.
Cao trình nước đo được tại cống Múc và cống Phú Lễ 2008 như sau:

Tháng

Cống Múc I

Cống Phú Lễ

Cao nhất

Thấp nhất

Cao nhất

Thấp nhất

1

190

-50

180

-90

2

185

-50

165

-80

3

172

-40

150

-70

4

168

-50

145

-70

5

210

-50

170

-70

6

220

-20

175

-80

7

220

-5

175

-80

8

230

0

150

-70

9

205

10

160

-70

10

240

-5

200

-70

11

215

-35

195

-80

12

218

-25

200

-70

Mực nước cao cực đại tại cống Múc I là 300mm (ngày 27/9/2005). Các tháng nước thấp là tháng 2, 3, 4.

Nước sông Ninh Cơ chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. Độ mặn 1‰ có thể đi sâu vào nội địa tới 37km, độ mặn 4‰ có thể vào nội địa trung bình 10,5km.

Dọc theo tuyến sông là tuyến đê bảo vệ có 19 cống và cửa sông lấy và tiêu nước.

Sông Sò

Sông Sò là chi nhánh của sông Hồng, đầu nguồn ở thị trấn Ngô Đồng huyện Giao Thuỷ. Sông có chiều dài 22,7km, đoạn qua huyện Hải Hậu là 6,5km đi qua xã Hải Nam, Hải Phúc và đổ ra biển Đông tại cửa Hà Lan. Đoạn sông qua Hải Hậu là ranh giới tự nhiên của huyện Hải Hậu và huyện Giao Thuỷ. Sông Sò ít uốn lượn, đoạn qua Hải Hậu là đoạn cuối sông, nước mặn luôn xâm nhập vào nên ít có tác dụng trong tưới nước.

Các chi nhánh chính của sông Ninh Cơ trên địa bàn cung cấp nước cho huyện Hải Hậu

Sông Rộc
Sông Rộc bắt nguồn từ cống Rộc xã Xuân Ninh đổ ra cống Quang Nam. Sông Rộc chảy qua xã Xuân Ninh, Hải Vân, Hải Nam, Hải Hà, Hải Phúc, Hải Lộc. Sông có 2 nhánh chính là Rộc 3 và Lộc Tân. Sông chảy từ Bắc xuống Nam với chiều dài 13km. Trên hệ thống có 58 kênh cấp hai lấy nước và tiêu cho 2469 ha đã canh tác của các xã phía Đông huyện Hải Hậu.

Sông Rộc là sông tự nhiên hình thành cùng với khai hoang lấn biển, được mở rộng nạo vét và đào mớí thêm để có sông Rộc như ngày nay.

Hệ thống sông Múc
Sông Múc cổ

Sông Múc cổ là sông tự nhiên có từ lúc khai hoang mở đất. Sông bắt nguồn từ cống Múc cổ (phia Tây làng Phạm Rỵ hiện nay) chảy xuyên qua làng Pham Rỵ về xóm Phú Cường (xóm cố đầu tiên đất Quần Anh xưa) chảy xuống qua cầu Đông lượn ra Nghĩa Chủng (Hải Trung) ra khu cây Đa ba gốc vòng sau chùa xã Hạ ra Đông Cường, lượn sau chùa Tùng Lâm (khu vực xã Hải Bắc hiện nay) ngược lên cánh đồng Trung khu (xóm 16 Hải Trung).
Sông Múc có vị trí quan trọng trong việc khai hoang mở đất thời kỳ đầu tứ tổ khai khẩn đất Quần Anh. Vì vậy các bậc tiền bối đã bỏ nhiều công sức đào đắp, mở rộng, cải tạo để khai thác triệt để dòng sông phục vụ cho khai hoang, dẫn nước thau chua rửa mặn, phục vụ cho cấy trồng và lấy nước sinh hoạt. Như việc bỏ cống Múc cổ xây cống Múc mới, về phía Đông làng Phạm Rỵ (nay là Âu Múc I) đào sông mới nối từ cống mới vào sông Múc cổ. Năm 1939 Pháp bỏ cống Múc cũ xây cống mới (nay là cống Múc I). Đồng thời đảo đoạn từ Nghĩa Chủng ra Yên Định, nối với sông Xẻ Đông ra thị trấn Cồn.

Hệ Múc II

Hệ Mức II bắt nguồn từ sông Ninh Cơ qua cống Múc II và Âu Múc II (giáp danh giữa xã Hải Trung và xã Xuân Ninh (huyện Xuân Trường). Hệ Múc II có 2 đoạn: đoạn đào mới 1985 từ cống Múc II đến cầu Mộng Chè (Hải Trung) dài 2,7km và đoạn 2 là sông Múc cũ từ cầu Mông Chè đến thị trấn Thịnh Long. Hệ Múc II có chiều dài 26km đi qua các xã Hài Trung, Hải Bắc, Yên Định, Hải Phương, Hải Hưng, Hải Quang, Hải Tây, Hải Tân, TT Cồn, Hải Xuân, Hải Hoà, TT Thịnh Long và đổ ra cống 1-5. Hệ Múc II có 3 nhánh lớn: Múc 1, cuối Múc và Múc 3. Hệ thống sông Múc II có 90 kênh cấp II làm nhiệm vụ cấp nước tưới và tiêu có 6.335 ha đất canh tác (50% đất canh tác) của huyện Hải Hậu.

Hệ Múc I

Hệ Múc l lấy nước từ sông Ninh Cơ qua cửa cống Múc I và Âu Múc l thuộc địa phận xã Hải Trung. Hệ Múc I có 2 đoạn: đoạn l từ cống Múc I đến Nghĩa trang liệt sỹ Hài Trung là đoạn sông Múc I cũ. Đoan từ nghĩa trang Hải Trung xuống Trực Phú là đoạn đào mới năm 1986. Sông có chiêu dài 12,7km chảy từ Hải Trung qua Hải Anh, Hài Minh, Trực Đại, Trực Thái, Trực Cường, Trực Phú. Hệ Múc II cắt ngang qua các sông Đối, sông Thốp, sông Trệ, sông Trực Cường. Hệ Múc I bổ sung 40% tổng lượng nước tưới cho hệ thống thủy nông Hải Hậu, tưới cho 5.117 ha đất canh tác của các xã phía Tây của Hải Hậu và 6 xã của huyện Trực Ninh.
Toàn bộ hệ thống sông Múc là xương sống cùa hệ thông thuỷ nông Hải Hậu. Các cửa lấy nước nằm sâu trong nội địa vì thế có thể chủ động lấy nước được quanh năm, tăng lượng nước có chất lượng cao phục vụ cho thâm canh cây trồng, cải tạo thau chua rửa mặn, nâng độ phì cho đất.

Sông Đối

Sông Đối lấy nước của sông Ninh Cơ qua cống Đối. Cống Đối ở vị trí giáp danh giữa xã Hải Anh và xã Hải Minh. Sông Đối đã qua các xã Hải Anh, Hải Minh, Hải Đường, Hải Phú, Hải Ninh. Trên sông Đối có 55 sông cấp 2, sông nhận nước từ cống Đối và Hệ Múc I tưới tiêu cho 2.390 ha đất canh tác vùng giữa huyện Hải Hậu.

Sông Trệ

Sông Trệ lấy nước từ sông Ninh Cơ qua cống Trệ. Sông có chiều dài 17,25km chảy qua các xã Hải Minh, Trực Đại, Hải Đường, Trực Thắng, Hải Phong. Sông Trệ nhận nước  từ cống Trệ và Hệ Múc I. Hệ thống sông Trệ có 28 kênh cấp 2 lấy nước và tiêu nước cho 1800 ha đất canh tác.

Sông Thốp

Sông Thốp lấy nước từ sông Ninh Cơ qua cống Thốp tại địa bàn xã Trực Đại, sông có độ dài 10,1km chảy qua các xã Trực Đại, Trực Thắng, Hải Phong. Hệ thống sông Thốp có 35 sông cấp 2. Sông Thốp nhận nước từ cống Thốp và Hệ Múc I để tưới tiêu có 1.842 ha trong khu vực.

Thủy triều và việc khai thác quy luật thủy triều ở Hải Hậu

Thuỷ triều là quy luật lên xuống của nước biến bởi sự tương tác của lực hút giữa mặt trăng và mặt đất. Vòng quay của trái đất theo quy luật, mặt trăng quay quanh trái đất cũng theo quy luật, cho nên thuỷ triều lên xuống vơi đầy tại  một vùng biển cũng theo quy luật. Thủy triều vùng biển Hải Hậu nằm trong vùng quy luật triều của biển phía Bắc biển Đông - chế độ nhật triều – mỗi ngày có 1 lần nước lên và 1 lần nước xuống, tuy nhiên đã kém điển hình bởi vì trong tháng có mấy ngày xuất hiện 2 lần thuỷ triều lên và 2 lần thuỷ triều xuống. Độ cao triều biển Hải Hậu thuộc vùng triều lớn của biển Việt Nam. Độ cao triều cực đại đo được tại Văn Lý là 3,88 m (ngày 24/10/1964). Các tháng 9-10-11-12 là tháng có độ cao thuỷ triều lớn. Các tháng 2-3-4 là tháng có độ cao thủy triều thấp. Kỳ nước kém xảy ra 2-3 ngày sau ngày mặt trăng qua mặt phẳng xích đạo mực nước lên xuống ít, có khi không thay đổi, những ngày này thường có 2 lần nước lên 2 lần nước xuống nên gọi là ngày nước sinh.

Hải Hậu có 2 nguồn nước trái chiều nhau. Thuỷ triều đâng, nước tràn vào đất liền, tiến sâu vào các cửa sông. Nước từ thượng nguồn theo sông chảy ra biển. Khi nước triền dâng lên, nước sông bị ứ đốn lại và dâng cao. Độ cao của nước sông lúc này phụ thuộc độ cao của nước triều và nước nguồn. Thuỷ triều lên xuống theo quy luật dân đến độ cao của nước trong sông cũng cao thấp theo quy luật. Mùa mưa nguồn nước từ thượng nguồn đổ về nhiều, mực nước sông cao hơn. Mùa khô nước nguồn ít, độ cao nước sông thấp hơn và nước mặn thường tiến sâu vào nội địa.

Từ tổng kết kinh nghiệm năm này qua năm khác, lợi dụng quy luật lên xuống của thủy triều, của nước sông, tổ tiên xưa đã xây dựng lên lịch con nước để bảo nhau lấy nước, giữ nước, tiêu nước trên đồng ruộng.

LỊCH CON NƯỚC TRONG 1 NĂM

Tháng

Ngày sinh con nước

Giờ nước lên

Giờ nước xuống

1 - 7

5 - 19

Thìn (7h - 9h)

Tỵ (9h - 11h)

2 - 8

3 - 17 - 29

Tỵ (9h - 11h)

Ngọ (11h - 13h)

3 - 9

13 - 27

Tuất (19h - 21h)

Hợi (21h - 23h)

4 - 10

11 - 25

Ngọ (11h - 13h)

Mùi (13h - 15h)

5 - 11

9 - 23

Dần (3h - 5h)

Mão (5h - 7h)

6 - 12

7 - 21

Tý (23h - 1h)

Sửu (1h - 3h)

Như vậy trong 1 năm có 26 lần con nước, các con nước kế tiếp nhau trước sau là 14 ngày. Từ ngày sinh con, nước lớn dần rồi lại thấp dần tới chu kì con nước mới.

Dựa trên quy luật của lịch con nước, người nông dân chủ động ngày giờ để dẫn nước vào ruộng, giữ nước, thay tiêu nước lấy phù sa, thau chua rửa mặn. Đây cũng là một kĩ thuật tưới nước đặc thù của sản xuất lúa của một huyện ven biển.

Có thuỷ triều, có nước nguồn, có quy luật như lịch con nước, đồng đất Hải Hậu tận dụng quy luật này để chủ động tưới tiêu tự chảy. Nhưng khi triều lên, nước biển tiến sâu vào đất liền, trên sông Ninh Cơ độ mặn 1‰ có thế vào sâu theo sông tới 37 km, biên độ mặn 4‰ vào sâu 10,5km (4‰ là giới hạn mặn đối với cây lúa) thì nếu như không có hệ thống đê biển, đê sông, các cống tiêu nước, dẫn nước đầu nguồn vững chắc thì với độ cao của thủy triều như thế Hải Hậu luôn luôn bị đe doạ là vùng ngập mặn.

Hệ thống công trình thuỷ lợi đê điều Hải Hậu

Chọn bãi bồi Lạch Lác làm nơi dựng nghiêp, tiên tổ tiền bối đã lo ngay việc quai đê lấn biển giữ đất và tiếp sau là đào sông, xây cống dẫn thuỷ nhập điền cải tạo đất, lấy nước tưới cho cây trồng.
Năm này qua năm khác, thế kỷ này qua thế kỷ sau đến, chế độ này mất đi, chế độ khác kế tục, lớp người này khuất đi, lớp người khác trường thành, việc đắp đê đào sông, xây cống vẫn được thực hiện ngày một quy mô lớn hơn hoàn chỉnh hơn, khoa học hơn.

Hệ thống công trình thuỷ lợi ở Hải Hậu

Sông cấp nước cho Hải Hậu là sông Ninh Cơ. Đến cuối thể kỷ XV vùng đất cổ Hải Hậu chỉ mới có dọc theo bờ sông Ninh Cơ đến phía Bắc đường 56 hiện nay. Hệ thống sông lấy nước còn rất nhỏ: Phía Đông có sông Rộc, phía đất Quần Anh có sông Múc cổ và sông Trệ cổ. Trong làng dòng sông luồn lách theo những vùng trũng ngoằn ngoèo, người dân đưa vào đó đào đắp thêm dần, hình thành sông và bờ sông rồi đường đi lối lại, hoặc dưới là sông, trên là đê. Các sông nhỏ lấy nước từ các sông lấy nước nguồn rồi dẫn nước vào từng cánh đồng hoặc khu dân cư, vừa làm nhiệm vụ lấy nước và tưới tiêu nước. Những sông cổ này  hiện duy nhất sông Trung Giang là còn nguyên dòng cũ – sông nối từ cầu Đông  Hải Trung ra cầu Ngói Hải Anh. Số còn lại đoạn còn đoạn mất. Sông Cửu Khúc bây giờ là vị trí của sông Múc II (đoạn từ nghĩa trang Hải Trung ra sông Đối). Các sông Bản nhất, Bản nhì, Bản ba sông Róng, Sách hầu, Sách văn  hiện nay đã bị nắn dòng theo quy hoạch thuỷ lợi mới hoặc đã lấp đi thành đất ruộng hoặc khu dân cư. Các cống đầu nguồn lấy nước cũng được xây khẩu độ hẹp, có phai cống bằng gỗ.

Thế kỷ XVIII - XIX đất đai khai hoang được mở rộng, việc đào sông xây Cống cũng đươc triển khai mạnh mẽ. Lợi dụng thế đất và địa hình, các thế hệ nối tiếp xẻ sông dọc, đào sông ngang để lấy nước từ sông Ninh Cơ tưới tiêu cho vùng đất từ Nam đường 56 ra Bắc đường 50 (Đường từ Cổn ra Thượng Trại, Ninh Mỹ). Sông dọc theo hướng Bắc - Nam có sông Xê Đông nối từ đò Một đồng của sông Múc (Yên Định) ra đến Cồn (nay là một đoạn của sông Múc l). Sông Xẻ Giữa nối từ sông Múc cố (phía Tây chùa Tùng Lâm) ra đến cho Quán Tàn (nay là sông từ cầu Tùng Lâm qua Hải Long ra Hải Sơn đến cầu Hải Cường). Sông Xẻ Tây nối tiếp sông Trệ từ cầu chợ Đền (Hải Anh) ra Thượng Trại (Hải Phú) nay là đoạn sông Đối từ chợ Đền qua Hải Đường ra Thượng Trại. Cùng với các sông xẻ dọc, các sông hoành (sông ngang) được đào đắp theo hướng Đông - Tây nối các sông dọc. Sông ngang đầu tiên là sông Hoành sứ Nhật trùng bắt đầu từ đò Một Đồng về cống Đông Biên ra cầu nhà Xứ chảy theo phía Nam đường 56 (Đê Hồng Đức) xuống chợ Đền tiếp vào sông Trệ. Cứ mỗi đầu trùng như thế có một sông hoành (ngang) gồm sông Nhị Trùng, Tam Trùng, Tứ Trùng và sông hoành cuối cùng là sông nối từ cầu Cồn với sông Xe giữa ở chợ Quán tàn, nối với sông Xê Tây ở chợ Thượng Trại, rồi tiêu ra cống Ninh Mỹ. Trên diện tích các hoành lại xẻ các sông xương cá chạy theo hướng Bắc Nam nối các sông ngang đưa nước tưới tới từng cánh đồng, từng thửa ruộng. Cuối thể kỷ XIX các sông dọc, sông ngang vùng phía Đông và phía Tây huyện Hải Hậu cũng được đào đắp cho vùng đất mới khai khẩn.

Thế kỷ XX – Nhất là từ giữa thế kỷ XX – khi có hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, các chiến dịch làm thủy lợi được phát động, được quy hoạch với sự hỗ trợ của nhà nước, việc đào sông xây cống được tiến hành rầm rộ, đồng bộ tạo nên một hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh và khoa học.

Năm 1939 Pháp xây cống Muc mới (nay là cống Múc I) đào rộng sông Múc, đào mới đoạn từ Nghĩa Chủng (Hải Trung) ra đò Một Đồng nối với sông Xẻ Đông hình thành sông Múc II ngày nay.

Năm 1956 đào sông Đối và mở rộng sông Xẻ Tây, từ 1960 đến 1965 quy hoạch thủy lợi được xây dựng và triển khai thi công. Hàng loạt sông cấp l được đào và nạo vét mở rộng, sông cấp II được đào mới và nắn dòng, mở rộng. Sông cấp 3, sông liên xã được xẻ thêm và điêu chỉnh. Cùng với hệ thống kênh mương tưới tiêu, các cống đầu mối tưới tiêu, các cống đầu sông cấp l, cấp II, sông liên xã, các phai cống đầu kênh cấp III được xây lắp, các đập phân trùng trên sông cấp l được xây dựng để phân vùng giữ nước; dâng nước lên vùng cao, tạo điều kiện tiêu nước cho vùng thấp. Từ 1980 đến nay hàng loạt công trình trọng điểm, có đầu tư lớn được xây dựng, cải tạo, nâng cấp:

1982 xây mới cống Doanh Châu.
1984 đào hệ Doanh Châu 2 nối cống tiêu với sông Hải Hậu.
1984 khởi công xây dựng Âu và cống Mức II.
1985 khởi công đào sông Múc nối từ cống Múc II vào sông Múc I.
1986 khởi công đào sông Múc II từ nghĩa trang liệt sĩ Hải Trung đến sông Đối.
1998 xây đắp Hai đồng.
2000 xây công Ngòi Cau 2.
2002 xây mới cống Hải Hoà, đập Ninh Mỹ,
2005 xây mới cống Rộc.

Cùng với đào đập hệ thống sông, kênh, mương ,xây cống lấy nước và tiêu nước. Từ năm 1960 đến 1965 huyện Hải Hậu đầu tư xây dựng 4 trạm máy bơm điện và bơm đầu có công suất lớn là trạm Hải Ninh, trạm Phong Giang, trạm Hải Hà và trạm Hải Phúc. Từ năm 1980 đến năm 1995 mạng lưới điện đến khắp trên toàn huyện, các hợp tác xã nông nghiêp đã đầu tư xây dựng được 52 trạm bơm điện để tưới tiêu cho từng khu vực nhỏ. Đến nay, hệ thống công trình thủy lợi ở Hải Hậu phục vụ cho thâm canh cây trồng, cho an sinh xã hội, cơ bản đã hoàn chỉnh với 186 km sông cấp I; 228,67 km sông liên xã, 556,4 km sông cấp II, 5100 kênh mương cắp III, 6005 cống đầu kênh cấp III, 17 cống lấy nước đầu nguồn, 34 cống tiêu ( trong đó có 13 cống tiêu ra biến), 462 cống đầu mối sông cấp II và sông liên xã, 154 cống đập phân trùng (đặc biệt là trên các sông lấy nước chính: sông Múc có đập Hai Đồng, đập Xuân Hương, đập Nam Thịnh. Sông Long Sơn có đập Lai Lưỡng. Sông Đối có đập Hùng Thắng, đập Giáp Nam, đập Thượng Trại. Sông Trệ có đập 12, đập Trực Thắng. Trên sông Rộc có đập Hải Nhuận) đã giúp cho việc hoành triệt triệt để từng vùng, chủ động dâng nước cho vùng đất cao, tiêu nước cho vùng trũng.

Hệ thống đê sông, đê biển Hải Hậu

Chọn bãi bồi Lạch Lác làm nơi dựng nghiệp, tổ tiên khai cơ đã bắt tay ngay vào việc đắp đê. Bấy giờ bãi bồi còn hoang vắng, khi triều cường thì mênh mông trời nước, khi nước xuống thì lau lách sú vẹt ngút ngàn. Đất mặn chưa cấy trồng gì được. Muốn cấy cày phải đắp đê ngăn nước tràn vào, phải khơi sông dẫn nước thau chua rửa mặn để cải tạo đất. Việc đắp đê và đào sông, xây cống được thực hiện đồng thời, khẩn trương.

Theo sử sách ghi lại, từ giữa thể kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI, tiên tổ Quần Anh đã đắp 6 con đê cổ sau:

- Đê Cường Giang: là con đê sông Ninh Cơ để ngăn nước sông tràn vào. Đê Cường Giang được đắp tiếp vào đê Hộ Xá, nay là nơi xây cống Múc II, đê được đắp dần theo thời gian đến Ninh Cường dài 18km. Đây là con đê cổ to nhất, quan trọng nhất để ngăn nước mặn khi triều lên theo sông tràn vào, đồng thời ngăn nước lũ từ thượng nguồn đổ về trong mùa mưa bão. Đến thế kỷ XVIII-XIX-XX đê được đắp tiếp dần khi đất đai được mở mang kéo dài đến của sông Ninh Cơ tại thị trấn Thịnh Long ngày nay.

- Đê Đông: Đê ngăn nước mặn từ biển tràn vào. Đê Đông nối từ Bắc Biên xuống Yên Định, hiện nay còn vết tích là đường Giới - ranh giới giữa xã Hải Bắc và xã Hải Hưng. Sau này khi đất đai mở rộng đê được đắp tiếp từ Yên Định xuống Cồn (nay là đường 21).

- Đê Hậu Đồng: Đê đắp từ đê Đông cắt qua Mộng Chè (Hải Trung) ra khu vực xóm Bồ Đề (Hải Anh) nối với đê Cường Giang. Đê Hậu Đồng khi chưa đào sông Múc II là đường Hậu Đồng của xã Hải Trung- Hải Anh, nay đào sông Múc chỗ còn chỗ mất.

- Đê Đồng Mộc: Nối từ đê Đông sang đê Cường Giang. Nay còn lại đoạn từ xóm 14 (Hải Trung) qua Mộc Đông, Mộc Tây đến đình Tân Thập (Hải Anh) đoạn này đang được mở rộng thành đường liên xã.

- Đê Nam: đê Nam không rõ nối từ đoạn nào với đê Đông, hiện nay chỉ còn lại bờ Nam sông Hậu Nam Biên (xóm 17) xã Hải Trung.

- Đê Hồng Đức: Thời vua Lê Thánh Tông (1470 - 1497 nhà vua cho đắp con đê chắn sóng ven biển kéo dài từ tỉnh Quảng Yên qua Hải Dương về Nam Định sang Ninh Bình, Thanh Hóa. Đoạn qua Hải Hậu nay là đường 56 từ bến đò Hà Lạn xuống Yên Định, qua chợ Đền (Hải Anh) xuống bến đò Ninh Cường (Trực Phú).

Người dân đông đúc, đất đai cần được mở rộng, ròng rã các thế kỷ sau việc đắp đê, đào sông, khai hoang càng được coi trọng. Đắp đê đào sông đến đâu khai hoang tới đó. Lần lượt tố tiên đã đắp đê Nhật Trùng (đầu xã Hải Long), đê Nhị Trùng (giữa xã Hải Long), đê Tam Trùng (cuối xã Hải Long), đê Tứ Trùng (đầu xã Hải Sơn), đê Ngũ Trùng (Hải Sơn) và đê Tiền Cồn (gần cuối xã Hải Sơn), đê Cồn Ngoài (cuối xã Hải Cường), đê Ngoại Bao (xã Hải Hòa). Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đê biển có vị trí gần như hiện nay.

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 việc đắp đê sông, đê biển tuy là việc sống còn nhưng do sức người, sức của còn hạn chế, chế độ cũ không đầu tư thích đáng cho việc đắp và tu bổ kiên cố đê điều vì vậy đê sông đê biển cũng chỉ có tác dụng trong những lúc thời tiết diễn biến bình thường, gặp khi bão gió nước dâng từ biển đưa vào hoặc mưa lũ từ thượng nguồn đổ về thì việc vỡ đê thường xảy ra gây mất mùa, chết người, mất của (trong đầu thế kỷ XX đã ghi lại 14 lần bão lụt gây vỡ đê vào các năm 1903, 1904, 1910, 1916, 1921, 1926, 1927, 1929, 1937,1940, 1942, 1944 (3 lần)).

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 hệ thống đê sông, đê biển của Hải Hậu được đầu tư nhiều tiền của và sức lực để đảm bảo cho an sinh xã hội.

- Đê sông Ninh Cơ: Từ cống Múc II xuống cửa sông Ninh (Thị trấn Thịnh Long) dài 30,13 km, trong đó đoạn do Hải Hậu quản lý là 17km 434; qua các xã Hải Trung, Hải Anh, Hải Minh, Hải An, Hải Giang, Hải Ninh, Hải Châu, Thịnh Long. Đoạn do các xã phía Nam huyện Trực Ninh quản lý dài 13km 298. Đê sông Ninh Cơ là đê sông trọng yếu, được đắp với bề mặt 5m, cao trình đầu là 3m8 và cửa sông là 3m4. Từ 2006 - 2008 mặt đê được trải cấp phối và đoạn cuối được rải nhựa.

- Đê sông Sò: Đoạn do Hải Hậu quản lý dài 6km38 đi qua xã Hải Nam, xã Hải Phúc và xã Hải Lộc. Đê được đắp với mặt rộng 4m, cao trình đầu là 3m4 tới cửa Hà Lan là 2m8. Mặt đê đươc trải cấp phối những đoạn xung yếu.

- Đê biển: Hải Hậu nằm trong vùng đứt gãy của địa hình miền Bắc Việt Nam, lại là vùng xói lở biển tiến, biển thoái, thậm trí không có bãi. Những bãi hiện nay nhiều đoạn là khoảng cách giữa tuyến đê đã bị biển tàn phá và tuyến đê hiện tại còn, có đoạn đê đã được di dời 2-3 lần trong nửa cuối thế kỷ XX.

Trải qua năm tháng đắp đi, đắp lại, đê biển Hải Hậu hiện có chiều dài 33km333 bắt đầu từ cửa sông Sò xã Hải Lộc qua xã Hải Lộc, Hải Đông, Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều, Hải Hoà rồi nối liền với đê sông Ninh Cơ ở thị trấn Thịnh Long.

Do bãi thoải, biển tiến, đê biển luôn luôn bị đe doạ vỡ, tràn nước nhất là khi có bão đổ bộ vào lúc triều cường. Vì vậy từ năm 1985 - nhất là từ năm 2000 trở lại đây, với các nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước và công sức của nhân dân Hải Hậu, hệ thống đê biển được bồi đắp nâng cao và kiên cố hóa bằng bê tông, kè đá. Tính đến năm 2008 trong tống chiều dài 33.330m đê biển, những điểm xung yếu đã xây 16.690m tường chắn sóng trong đó có 7.063m tường bê tông và 9.627m tường đá xây. Đổ bê tông và kè đá 24.323m mái đê phía biển, mặt đê cũng được kiên cố hóa bằng 11.484m bê tông, 12.068m đá cấp phối và 5.363m nhựa. Diện tích đê còn lại cũng đang được thực hiện việc kiên cố theo kế hoạch để tăng độ an toàn bền vững.

Do vị trí địa lý, với những đặc điểm của đất đai. Đắp đê, bảo vệ đê luôn là công việc trọng yếu và có vị trí quan trọng của Hải Hậu. Những năm tháng xưa kia, tổ tiên tiền bối đã bỏ ra biết bao công sức, tiền của đắp đê, giữ đê để khai hoang lấn đất mà tạo ra mảnh đất Hải Hậu màu mỡ, bạt ngàn cây cối xanh tươi. Các thể hệ tiếp theo tiếp tục đắp đê, giữ đê cải tạo đồng ruộng, dựng lên huyện Hải Hậu với biển lúa thẳng cánh cò bay, hoa trái bốn mùa trĩu quả, tôm cá đầy ao, muối trắng đầy kho mà tiếng tăm về sự giàu có phồn vinh vang xa, nhiều người mơ ước. Ngày nay với những biến đổi của khí hậu, sự thay đổi về đất đai, việc đắp đê, bảo vệ đê, xây dựng đê bền chặt, đủ sức chống trọi lại bão tố, ngăn chặn sự xói lở, bảo vệ lấy từng tấc đất màu mỡ mà cha ông đã tạo dựng, cũng là bảo vệ cuộc sống bình yên của xã hội là nhiệm vụ sống còn của nhân dân Hải Hậu hôm nay cũng như mãi mãi mai sau.

Nước ngầm ở Hải Hậu

Nước trời, nước nguồn, nước triều biển vô cùng phong phú. Nước ngầm ở Hải Hậu cũng đầy đủ, dồi dào. Do cốt đất thấp, có hệ thống sông ngòi, ao hồ dày đặc, tầng đất dày, khả năng thấm nước cao, dẫn nước tốt nện bất cứ nơi nào đào xuống đều gặp nước ngầm (có nơi chỉ đào sâu 1 m nước ngầm đã tràn trề). Mực nước ngầm tầng đất mặt cao thấp theo mùa. Mùa mưa nước trong hồ ao, mương máng, sông ngòi dâng cao, trời mưa nhiều thì nước ngầm tầng đất mặt cũng dâng cao. Mùa khô thì mực nước ngầm tầng đất mặt hạ thấp đi nhưng cũng chỉ thấp đi ở tầng nước ngầm 1- 2m trên mặt. Lợi dụng mạch nước ngầm tầng đất mặt, những năm trước đây, nhân dân Hải Hậu đào giếng chỉ đào sâu 2- 4m tùy theo vị trí đất và tính chất đất. Nơi cốt đất cao, thành phần đất là đất cát, cát pha thì giếng đào sâu 3-4m. Nơi cốt đất thấp, đất thịt thì chỉ đào 2- 3m đã có nước để dùng quanh năm. Tầng nước ngầm trên lớp đất mặt có chứa nhiều chất vô cơ cũng như các chất hữu cơ như: Sắt, NH3, H2S và vi khuẩn. Vì vậy, tuy nước trong (không lẫn phù sa và các chất hữu cơ nhiều như nước sông, nước ao hồ) nhưng không đảm bảo tiêu chuẩn nước sạch y tế.

Theo kết quả khoan thăm dò mực nước ngầm thì càng khoan sâu vào lòng đất thì nước ngầm càng phong phú và chất lượng nước càng cao. Tại Hải Sơn, Hải Thịnh khoan sâu 370 m gặp tầng nước sạch có chất lượng cao, vô trùng đủ tiêu chuẩn đóng chai làm nước uống, nhiệt độ nước ổn định 37oC. Nước ngầm tầng sâu phân thành từng tầng cấp nước. Các tầng cấp nước được giới hạn bởi những tầng địa chất không thấm nước hoặc thấm nước kém (thường là tầng đất sét nâu hoặc đất sét trắng) tầng cấp nước là tầng cát thô (thường là tầng cát trắng), mỗi tầng cấp nước có độ dày 5- 10m và cao thấp khác nhau uốn lượn theo từng vùng trong cả huyện. Kết quả khoan giếng theo chương trình nước sạch UNICEF thì tổng quát đất Hải Hậu nước ngầm tầng sâu có những tầng cấp nước sạch là: độ sâu 25- 40m, độ sâu 60- 80m, độ sâu 100- 130m, độ sâu 140- 160m và chắc chắn khoan sâu nữa vẫn có tầng cấp nước, mà tầng sâu 370m khoan ở Hải Sơn đã gặp. Các giếng nước đã khoan cho kết quả độ sâu cấp nước ở các vùng phía Bắc và phía Đông huyện Hải Hậu dao động 120- 130m, vùng đất giữa và phía Tây huyện 100- 120m, vùng ven biển 110- 120m, áp lực nước ngầm trong các giềng đã khoan khá lớn, nhiều giếng nước tự phun ra khỏi mặt giếng. Khả năng cấp nước rất dồi dào, nhiều giếng khoan cùng một lúc sử dụng 2-3 đầu lấy nước, nước trong giếng vẫn đủ cung cấp. Nước ngầm tầng sâu ở Hải Hậu có chất lượng cao hơn và sử dụng tiện ích hơn nhiều nơi khác. Nước giếng bơm ra không lẫn tạp chất (nước trong) không nhiễm khuẩn. Các hợp chất kim loại, vô cơ... thấp hơn giới han quy định của nước sạch UNICEF. Hàm lượng oxit sắt rất thấp nên giặt quần áo, đồ dùng chứa nước lâu ngày vẫn không bị chuyển màu nâu xỉn. Năm 2005 kiểm tra 2.376 giếng khoan trong tổng 47.869 giếng khoan ở khắp các vùng đất khác nhau trong toàn huyện đã cho kết quả hầu như toàn bộ giếng có hàm lượng Asen trong nước rất thấp trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước sạch: các giếng khoan ở độ sâu nông 40- 60m hàm lượng Asen trong nước có cao hơn nhưng vẫn nằm trong giới hạn không gây hại cho người sử dụng. Nhiệt độ nước ngầm bơm lên rất ổn định, mùa hè khi nhiệt độ không khí lên trên 30°C thì nước giếng vẫn giữ trên dưới 25°C. Mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 20°C thì nhiệt độ nước giếng khoan vẫn ổn định, vì thế nước giếng khoan rất tiện lợi cho sử dụng trong sinh hoạt quanh năm. Nước ngầm tầng sâu ở Hải Hậu nơi nào cũng có, sát mép nước biển, bị thủy triều xâm lấn hàng ngày, nhưng khi khoan sâu xuống 100- 120m thì vẫn là nước ngọt có chất lượng cao.

Nước ngầm, nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho vùng đất Hải Hậu. Lợi dụng nguồn tài nguyên này nhân dân Hải Hậu đã khai thác để sử dụng. Với 77.736 hộ gia đình, cho đến 2008 toàn huyện đã khoan 51.200 giếng khoan (theo tính toán của chương trình nước UNICEF thì mỗi giếng khoan có thể cung cấp đủ nước cho 20 hộ gia đình sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày) và 1.880 giếng khơi thì có thể khẳng định 100% dân Hải Hậu đã được sử dụng nước ngầm. Với nguồn tài nguyên nước ngầm phong phú và có chất lượng cao, Hài Hậu có điều kiện khai thác, chế biến để cung cấp cho thị trường nguồn nước sạch của thiên nhiên.

Bình luận Khái quát khí hậu - thủy văn Hải Hậu

Bài viết mới về gạo